vanban.org

Bản án 16/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Mường Lay, tỉnh Điện Biên Tuyên án 06/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Anh T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

[2]. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Anh T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/4/2023. [3]. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ Luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Anh T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ MƯỜNG LAY
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2023/HS-ST
Ngày: 06/9/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MƯỜNG LAY, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Thân Văn Hàm.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lâm Hữu Thảo

Bà Đỗ Thị Thư

- Thư ký phiên tòa: Ông Lò Văn Lâm - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Mường Lay.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mường Lay tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2023/TLST-HS, ngày 11/8/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2023/QĐXXST-HS ngày 24/8/2023 đối với: Bị cáo Phạm Anh T (tên gọi khác: Không); Sinh ngày 25 tháng 12 năm 1984; nơi cư trú: Bản N, xã L, thị xã M, tỉnh Đ; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Phạm Hữu T; sinh năm 1960; con bà: Điêu Thị T; sinh năm 1962; Bị cáo có vợ Lường Thị Q; sinh năm 1975; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2012; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị xử phạt hành chính, đã bị kết án ngày 14/9/2017, bị Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Đ xử phạt 03 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, ngày 28/01/2020 chấp hành xong trở về địa phương, đến ngày phạm tội trong vụ án này đã được xóa án tích. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/4/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Anh Lò Văn K sinh năm 1989; Trú tại bản M, xã L, thị xã M, tỉnh Đ (Vắng mặt - Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Chị Phạm Thị T sinh năm 1986; trú tại Bản N, xã L, thị xã M, tỉnh Đ (Vắng mặt - Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 12/4/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã M bắt Lò Văn K sinh năm 1989 trú tại bản M, xã L, thi xã M, tỉnh Đ về hành vi trộm cắp tài sản. Qua quá trình đấu tranh K đã khai nhận từ ngày 10/4/2023 đến ngày 11/4/2023, K đã mua ma túy của Phạm Anh T sinh năm 1984, trú tại bản T, xã L, thi xã M, tỉnh Đ về để sử dụng cho bản thân.

Căn cứ các tài liêu thu thập Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp đối với Phạm Anh T (Sinh năm 1984; trú tại bản T, xã L, thị xã M, tỉnh Đ). Qua khám xét người và nơi ở của T cơ quan Công an thu giữ được 15 gói nhỏ chất bột màu trắng, được gói bằng giấy bạc màu vàng của vỏ bao thuốc lá (nghi Heroine) theo lời khai của T đây là heroine T tàng trữ với mục đích để sử dụng cho bản thân và bán lẻ kiếm lời; tiền Việt Nam là 350.000đ và một số vật chứng khác có liên quan.

Tại cơ quan điều tra Phạm Anh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 09/4/2023, Phạm Anh T điều khiển xe máy nhãn hiệu YAMAHA Sirius màu trắng, BKS 27H2-9096 từ nhà sang khu vực cầu bản C, thuộc xã L, huyện N, tỉnh L mục đích để mua Heroine. Khi đến nơi, T gặp một người đàn ông không quen biết, nhìn giống người nghiện. T trao đổi và mua được 01 gói Heroine gói bằng túi nilon màu đen với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được Heroine, T về nhà dùng dao lam, lấy một ít Heroine để sử dụng hết bằng hình thức chích, số còn lại T chia thành 08 gói nhỏ, gói bằng giấy bạc màu vàng của vỏ bao thuốc lá, bị cáo đã sử dụng hết 04 gói, còn lại 04 gói bị cáo đã 04 lần bán cho Lò Văn K từ ngày 10/4/2023 đến ngày 11/4/2023 cụ thể như sau:

Lần 1: Khoảng 11 giờ ngày 10/4/2023, Lò Văn K gọi điện cho T hỏi mua Heroine với giá 100.000 đồng, T đồng ý và hẹn gặp tại nhà T. Khoảng 05 phút sau K đi xe máy đến thấy một mình T ở nhà, T đi vào giường ngủ lấy từ trong lọ B1 01 gói Heroine đưa cho K. K xin nợ tiền, T đồng ý. Mua bán Heroine xong, T quay vào giường ngủ nằm còn K cầm gói Heroine vừa mua được đi đến khu vực nghĩa trang bản H, xã L, thị xã M sử dụng hết bằng hình thức hít.

Lần 2: Khoảng 08 giờ ngày 11/4/2023, khi T đang ở cuối bản H, xã L, thị xã M thì Lò Văn K gọi điện cho T hỏi mua Heroine với giá 100.000 đồng, T đồng ý và điều khiển xe máy nhãn hiệu nhãn hiệu YAMAHA Sirius màu trắng, BKS 27H2-9096 quay về nhà, lấy 01 gói Heroine từ lọ B1 ở giường ngủ, cầm trong lòng bàn tay rồi quay lại bản H đứng đợi. Khoảng 05 phút sau thì thấy K đi đến, T đưa cho K gói Heroine. Do không có tiền trả nên K đã đưa cho T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9C màn hình cảm ứng màu đen để cầm cố. Sau khi mua bán Heroine xong, T đi về nhà, K cầm gói Heroine vừa mua được đi đến khu vực nghĩa trang bản H, xã L, thị xã M sử dụng hết bằng hình thức hít.

Lần 3: Khoảng 14 giờ ngày 11/4/2023, khi T đang ở nhà thì K đi xe máy đến hỏi mua Heroine, T đồng ý, quay vào chỗ cũ lấy 01 gói Heroine bán cho K với giá 100.000 đồng. K bảo trừ tiền mua Heroine vào tiền cắm chiếc điện thoại lúc sáng là 300.000 đồng, T đồng ý. Sau khi mua được Heroine, T quay vào giường ngủ nằm, còn K cầm gói Heroine vừa mua được đi đến khu vực nghĩa trang bản H, xã L, thị xã M sử dụng hết bằng hình thức hít.

Lần 4: Khoảng 21 giờ ngày 11/4/2023, K điều khiển xe máy đến nhà T, thấy T ở nhà một mình, K đưa cho T 350.000 đồng để chuộc điện thoại. Trong đó tiền nợ 03 gói Heroine là 300.000 đồng, còn 50.000 đồng K mua thêm 01 gói Heroine, T đồng ý rồi đi lấy 01 gói Heroine ở chỗ cũ và chiếc điện thoại để đưa cho K. K cầm gói Heroine và chiếc điện thoại đi đến khu vực nghĩa trang bản H, xã L, thị xã M sử dụng hết bằng hình thức hít.

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 12/4/2023, T gọi điện cho chị Lường Thị N ở bản P, xã P, huyện M, tỉnh Đ để hỏi mua 03 phân Heroine. N đồng ý bán với giá 750.000 đồng và hẹn T tại khu vực đồi cây Trẩu đầu bản P, xã P, huyện M, tỉnh Đ để tiến hành mua bán. Sau đó, T điều khiển xe máy nhãn hiệu nhãn hiệu YAMAHA Sirius màu trắng, BKS 27H2-9096 đi đến nơi hẹn với Lường Thị N. T gọi điện thoại cho chị N, khoảng 10 phút sau N đi xe máy đến, lấy từ trong người ra 01 gói nylon màu xanh gắn kín đưa cho T. T đưa cho N số tiền 750.000 đồng. Sau khi mua được Heroine, T cầm ở lòng bàn tay phải rồi điều khiển xe quay về nhà. T dùng dao lam cắt một ít Heroine vừa mua được để sử dụng hết bằng hình thức chích, số còn lại T dùng dao lam chia thành 15 gói nhỏ, gói bằng giấy bạc của vỏ bao thuốc lá. 01 gói T để trên bàn đầu giường ngủ, còn 14 gói T cất trong vỏ lọ thuốc B1, để trong tủ quần áo. Mục đích để sử dụng cho bản thân, ai hỏi mua thì bán với giá 100.000 đồng/gói.

Tại biên bản làm việc về việc mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Mường Lay ngày 13/4/2023. Xác định số Heroine thu giữ của bị cáo Phạm Anh T có tổng khối lượng 0,54gam (không phẩy năm mươi bốn gam). Cơ quan điều tra trích 0,18 gam gửi giám định, mẫu gửi giám định không hoàn lại.

Tại bản kết luận giám định số 647/KL-PC09 ngày 20/4/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu vật chứng gửi giám định, thu giữ của bị cáo Phạm Anh T là ma túy loại Heroine. Không hoàn lại mẫu vật sau giám định. Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy, SST: 9, mục IA, danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018.

Tại bản cáo trạng số 12/CT-VKSML ngày 09/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Phạm Anh T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS.

Tại phiên tòa phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên xử bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS.

Xử phạt bị cáo Phạm Anh T từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/4/2023.

Đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 BLHS vì bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Đề nghị HĐXX xử lý vật chứng vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo cũng không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát nhân dân về tội danh cũng như hình phạt; lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa có lý do. Trong giai đoạn điều tra cũng như trong đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã có lời khai thể hiện quan điểm rõ ràng, việc vắng mặt tại phiên tòa hôm nay không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi của bị cáo: Qua tranh tụng công khai tại phiên tòa bị cáo Phạm Anh T đã thừa nhận từ ngày 10/4/2023 đến ngày 11/4/2023, tại nhà ở của Phạm Anh T và khu vực cuối bản H thuộc xã L, thị xã M, tỉnh Đ, Phạm Anh T có hành vi 04 lần bán Heroine trái phép cho Lò Văn K thu được 350.000 đồng. Hồi 11 giờ 50 phút ngày 12/4/2023, căn cứ lời khai của Lò Văn K, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Mường Lay đã tiến hành khám xét khẩn cấp người và chỗ ở của Phạm Anh T, thu giữ 15 gói Heroine, đều gói bằng giấy bạc màu vàng của vỏ bao thuốc lá có tổng khối lượng 0,54 gam. Mục đích T tàng trữ 15 gói Heroine để sử dụng cho bản thân và bán lẻ kiếm lời.

Lời khai của bị cáo Phạm Anh T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp biên bản khám xét, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, kết luận giám định, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ cũng như bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo. Hành vi 04 lần bán heroine và tàng trữ Heroine với mục đích để sử dụng và bán lẻ kiếm lời của bị cáo nêu trên là nguy hiểm cho xã hội. Do vậy HĐXX đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Pham Anh T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS.

Tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:

“2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

…

b) Phạm tội 02 lần trở lên;”

. Xét tính chất mức độ và hậu quả của tội phạm: Tính chất của vụ án là rất N trọng, bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp chính sách độc quyền của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý và sử dụng các chất ma túy, tiếp tay cho các loại tội phạm khác làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn thị xã.

. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:

Bị cáo Phạm Anh T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS cho bị cáo. Bị cáo Phạm Anh T cần áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

. Về hình phạt bổ sung:

Cơ quan cảnh sát điều tra đã xác minh và qua tranh tụng tại phiên tòa hôm nay cho thấy, gia đình bị cáo không có tài sản có giá trị; bị cáo không có thu nhập thường xuyên, ổn định, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là phù hợp.

. Về vật chứng vụ án: Số Heroine thu giữ của bị cáo là 0,54 gam Cơ quan điều tra đã trích 0,18 gam gửi giám định, Cơ quan giám định không hoàn lại mẫu sau giám định. Số Heroinne còn lại là 0,36 gam là vật Nhà nước cấm lưu hành và sử dụng, do vậy HĐXX tịch thu tiêu hủy; 02 mảnh giấy bạc của vỏ bao thuốc lá có kích thước 7,5cmx4cm và 2,75cm x 2,75cm; 02 chiếc dao lam nhãn hiệu CROMA đã qua sử dụng; 01 vỏ lọ thuốc B1 màu trắng đã qua sử dụng. Đây là những vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, không còn giá trị sử dụng, do vậy cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 350.000đ đây là số tiền bị cáo có được do bán ma túy ma có, HĐXX cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với 01 điện thoại di động bàn phím nhãn hiệu NOKIA 1280, IMEI: 353408/04/741543/3 đã qua sử dụng, bên trong có sim số 0327.384.446 đây là chiếc điện thoại mà bị cáo sử dụng để liên lạc trao đổi mua bán ma túy. Do vây HĐXX cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA Sirius BKS: 27H2 9096 màu trắng, số khung: RLCS5C6309Y284309, số máy: 5C63-284359, không kiểm tra chi tiết bên trong máy. Chiếc xe máy bị cáo sử dụng vào việc pham tội tuy nhiên đây là chiếc xe thuộc quyền sở hữu của chị Phạm Thị t, chị cho gia đình bị cáo mượn sử dung trong sinh hoạt hàng ngày, chị Tuyết không biết bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên HĐXX trả lại xe máy cho chị t.

Các vấn đề khác của vụ án:

Đối với người đàn ông đã bán heroine cho bị cáo tại khu vực bản c, xã l, huyện n, tỉnh l. Do không xác định được lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Mường Lay không đủ căn cứ để xác minh làm rõ vì vậy không đặt vấn đề xử lý trong vụ án.

Đối với chị Lường Thị N, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Mường Lay đã tiến hành khám xét khẩn cấp người và chỗ ở của N, đối chất và các biện pháp điều tra cần thiết khác. Tuy nhiên do việc mua bán Heroine của N và bị cáo T không có ai khác biết hoặc chứng kiến, Lường Thị N không thừa nhận việc bán Heroine cho T nên không đủ căn cứ để xử lý trong vụ án này.

Đối với Lò Văn K là người đã mua heroine của Phạm Anh T, Cơ quan điều tra Công an thị xã Mường Lay đã chuyển hồ sơ đến Công an xã Lay Nưa, thị xã Mường Lay ra Quyết định xử phạt hành chính số 09/QĐ-XPHC ngày 15/4/2023 đối với Lò Văn K bằng hình thức cảnh cáo.

Đối với chị Phạm Thị T là người đã cho bị cáo mượn xe máy nhãn hiệu YAMAHA Sirius BKS: 27H2 9096 màu trắng từ Tết nguyên đán năm 2023 đến nay để bị cáo sử dụng làm phương tiện đi lại phục vụ sinh hoạt gia đình. Chị T không biết việc T sử dụng xe để làm phương tiện mua bán Heroine nên không đề cập xử lý trong vụ án này.

. Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mường Lay đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý, mức hình phạt từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp với tính chất mức độ hành vi của bị cáo. Ngoài ra các đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên buộc bị cáo phải chịu án phí HSST, xử lý vật chứng và các vấn đề khác là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án ngày 30/12/2016, Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vu liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Anh T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

[2]. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Anh T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/4/2023.

[3]. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ Luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 0,36 gam Heroine là vật Nhà nước cấm lưu hành và sử dụng; 02 mảnh giấy bạc của vỏ bao thuốc lá có kích thước 7,5cmx4cm và 2,75cm x 2,75cm; 02 chiếc dao lam nhãn hiệu CROMA đã qua sử dụng; 01 vỏ lọ thuốc B1, màu trắng đã qua sử dụng.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 350.000đ đây là số tiền bị cáo có được do bán ma túy ma có.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động bàn phím nhãn hiệu NOKIA 1280, IMEI: 353408/04/741543/3 đã qua sử dụng, bên trong có sim số 0327.384.446.

Trả lại cho chị Phạm Thị T 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA Sirius BKS: 27H2 9096 màu trắng. Số khung: RLCS5C6309Y284309, số máy: 5C63-284359 đã qua sử dụng.

(Vật chứng đã được niêm phong và bàn giao sang Chi cục thi hành án dân sự thị xã Mường Lay. Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Mường Lay và Chi Cục thi hành án Dân sự thị xã Mường Lay ngày 15/8/2023).

[4]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án ngày 30/12/2016: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

[5]. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (06/9/2023). Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án về phần liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình lên Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ