vanban.org

Bản án 16/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 28/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội: “tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ: 30-12-2022. Về án phí: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc T - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội: “tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2023/HS-ST
Ngày 28-03-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ - TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đồng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Thái Quang Định

Bà Phạm Thị Dung

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dung, thư ký Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Tâm - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 03 năm 2023, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2023/TLST- HS ngày 23 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2023/QĐXXST- HS ngày 13 tháng 03 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc T, tên gọi khác: không có, sinh ngày 27 tháng 11 năm 1979 tại thành phố U, tỉnh Q; nơi cư trú: tổ 20A, khu 6, phường Q, thành phố U, tỉnh Q; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình N (đã chết) và bà Lương Thị Th; có vợ là Trần Thị H và có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2016; tiền án: không có; tiền sự: ngày 24-7-2020 bị công an thành phố U, tỉnh Q xử phạt hành chính về hành vi “xâm hại sức khỏe của người khác”; ngày 27-10-2022 bị công an tỉnh Q xử phạt hành chính về hành vi “tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị bắt, tạm giam ngày 30-12-2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố U, có mặt tại phiên tòa.

- Những người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1987, địa chỉ: tổ 3, khu Q, phường P, TP. U, tỉnh Q, vắng mặt tại phiên tòa.

2. Ông Bùi Văn T, sinh năm 1967, địa chỉ: tổ 2, khu B, phường P, TP. U, tỉnh Q, vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 30-12-2022, tại khu vực gần nhà Văn hóa khu 2, phường Q, thành phố U, tỉnh Q, tổ công tác của Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố U phối hợp cùng công an phường Q phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Ngọc T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ của T 01 gói ma túy cầm ở tay trái thả xuống đất nhằm trốn tránh việc kiểm tra (kí hiệu M1), lực lượng Công an tiếp tục kiểm tra và thu giữ 01 gói ma túy của Thắng để trong ví giả da (ký hiệu M2). Ngoài ra còn thu giữ: một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, vỏ màu xanh đen, bên trong lắp sim số 0789299909; một xe máy nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu sơn vàng đen, gắn biển số 14B1 - 695.55.

Quá trình điều tra Nguyễn Ngọc T khai nhận hành vi phạm tội như sau: do có nhu cầu sử dụng ma túy, khoảng 14 giờ 30 phút ngày 30-12-2022, Thắng điều khiển xe máy nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS gắn biển số 14B1 - 695.55 (xe mượn của ông Đặng Minh T) đi đến khu vực xã M, huyện T, thành phố H tìm, gặp mua ma túy của một người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) 01 (một) gói ma túy Heroine với giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng), T nhận rồi mở gói giấy này ra chia số ma túy bên trong thành hai phần, một phần T gói lại bằng mảnh giấy màu trắng ban đầu, phần còn lại T nhặt một mảnh giấy màu vàng ở dưới đất để gói lại. Sau đó, T cầm gói màu trắng ở tay trái, còn gói màu vàng cất vào trong chiếc ví giả da màu nâu của T và điều khiển xe đi về thành phố U tìm nơi sử dụng ma túy thì bị Công an phát hiện bắt quả tang.

Tại bản Kết luận giám định số 32/KL-KTHS ngày 05-01-2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Heroine, khối lượng M1 là 0,049g (không phẩy không bốn chín gam); M2 là 0,038g (không phẩy không ba tám gam). Tổng khối lượng là 0,087g (không phẩy không tám bẩy gam).

Tại Cáo trạng số 11/CT - VKSUB ngày 22-02-2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí đã truy tố Nguyễn Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Nguyễn Ngọc T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Những người làm chứng anh Nguyễn Văn L và ông Nguyễn Văn T đều vắng mặt tại phiên tòa nhưng cũng có lời khai thể hiện bị cáo T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và bị Công an thành phố U phát hiện bắt quả tang.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Ngọc T theo bản Cáo trạng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ: 30-12-2022.

Bị cáo không tranh luận với luận tội của Đại diện Viện kiểm sát, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về việc định tội: lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và lời khai của những người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, với vật chứng vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: khoảng 15 giờ 30 phút ngày 30-12-2022, tại khu vực gần Nhà văn hóa khu 2, phường Q, thành phố U, tỉnh Q, Nguyễn Ngọc T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã bị Công an tỉnh Quảng Ninh xử phạt hành chính về hành vi “tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, bị bắt quả tang khi đang thực hiện hành vi cố ý tàng trữ trái phép 0,087g (không phẩy không tám bẩy gam) ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, đủ yếu tố cấu thành tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự mà Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Về hình phạt:

Hình phạt chính: bị cáo Nguyễn Ngọc T đã từng bị Công an tỉnh Quảng Ninh xử phạt hành chính về hành vi “tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính lại có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Heroine có khối lượng 0,087g (không phẩy không tám bẩy gam) tội danh và mức hình phạt quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là từ 01 (một) năm đến 05 (năm) năm tù.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: tuy bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo có 01 tiền sự ngày 24-7-2020 bị Công an thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh xử phạt hành chính về hành vi “xâm hại sức khỏe của người khác”; (đối với tiền sự ngày 27-10-2022 bị Công an tỉnh Quảng Ninh xử phạt hành chính về hành vi “tàng trữ trái phép chất ma túy” đã được xem xét áp dụng tình tiết định tội ở điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo). Điều này thể hiện bị cáo không tu dưỡng rèn luyện bản thân nên cần phải có mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo.

Để tăng cường biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm nói chung cũng như để giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để bị cáo tu dưỡng và sửa chữa lỗi lầm của bản thân.

Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ (năm triệu đồng) đến 500.000.000đ (năm trăm triệu đồng). Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 0,087g (không phẩy không tám bẩy gam) ma túy, loại Heroine gửi đi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định, Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh không hoàn lại đối tượng giám định nên HĐXX không đề cập xử lý.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, vỏ màu xanh đen, bên trong gắn sim số 0789299909 không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, cơ quan điều tra đã giao cho bà Lương Thị T là mẹ đẻ của bị cáo quản lý và bảo quản (bị cáo đã ủy quyền cho bà T nhận thay) nên HĐXX không đề cập xử lý.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn vàng đen, gắn biển số 14B1- 695.55, quá trình xác minh làm rõ ông Đặng Minh T là chủ sở hữu. Ông T không biết T mượn xe sử dụng vào việc phạm tội, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX không đề cập xử lý.

Về các vấn đề khác:

Đối với người bán ma túy cho T hiện không rõ lai lịch địa chỉ nên HĐXX không đề cập xử lý.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội: “tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ: 30-12-2022.

2. Về án phí:

Áp dụng: khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 3, khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Danh mục án phí, lệ phí Toà án của Nghị quyết số 326/2016/UBNTQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.

3. Quyền kháng cáo:

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ