- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị Q - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Thị Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2023/HS-ST Ngày: 16-01-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Ngô Kim Thành
Bà Trịnh Thị Lan
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thanh Hương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Trần Quang Thành - Kiểm sát viên
Ngày 16 tháng 01 năm 2023 tại Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 319/2022/TLST-HS ngày 22 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 319/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Thị Q, sinh ngày 19 tháng 4 năm 1978 tại: Thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định; nơi đăng ký thường trú: Tổ 29 T, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Tổ 29 T, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; số căn cước công dân: 036178001895; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Lưu T và bà Bùi Thị Đ; có chồng Nguyễn Đức T1 (đã chết) và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 16-9-2008 bị Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; ngày 16-6-2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21-10-2022, chuyển tạm giam từ ngày 30-10-2022 cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 19-10-2022 và 21-10-2022, sau khi tiếp nhận thông tin tố giác tội phạm của quần chúng nhân dân về việc Trần Thị Q có biểu hiện mua bán trái phép chất ma túy, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Nam Định đã tiến hành điều tra, xác minh. Trên cơ sở tài liệu, chứng cứ thu thập được, ngày 21-10-2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nam Định đã thi hành lệnh khám xét khẩn cấp tại nơi ở của Trần Thị Q. Quá trình khám xét đã thu giữ: Dưới gầm giường trong phòng ngủ của Q có 01 gói ni-lông nhỏ màu hồng, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng, niêm phong ký hiệu là Q; trong bếp có 01 túi ni-lông màu đỏ, bên trong có nhiều loại túi ni-lông nhỏ màu trắng, trong đó có 03 túi ni-lông có kích thước 5x8cm và 11 túi ni-lông có kích thước 3x4cm, bên trong các túi ni-lông đều có bám dính chất dạng tinh thể màu trắng, niêm phong ký hiệu là Q1; số túi ni-lông không có chất bám dính còn lại được niêm phong ký hiệu Q2; trong phòng khách có 01 đầu ghi hình màu trắng, có chữ VISION, kích thước 20x20x5cm; 03 mắt camera trước cửa nhà Q; 01 mắt camera ở đầu ngõ; 01 căn cước công dân mang tên Trần Thị Q; 01 điện thoại di động có chữ OPPO đã cũ và số tiền 3.750.000 đồng.
Khi khám xét nơi ở của Q có anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1974, nơi đăng ký thường trú: Số 126 phố H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, hiện đang ở cùng nhà Q.
Trong quá trình khám xét, Cơ quan điều tra đã thu, niêm phong mẫu nước tiểu của Trần Thị Q và anh Nguyễn Văn B để giám định xác định chất ma túy trong nước tiểu, ký hiệu là T và T1.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nam Định đã ra quyết định trưng cầu giám định vật chứng thu giữ.
Bản kết luận giám định số 1538/KL-KTHS ngày 24-10-2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 gói ni-lông nhỏ màu hồng, trong phong bì niêm phong ký hiệu Q gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine. Khối lượng mẫu Q: 0,201 gam; Mẫu tinh thể màu trắng bám dính trong 14 túi ni-lông màu trắng, trong phong bì niêm phong ký hiệu Q1 gửi giám định đều là ma túy. Loại ma túy: Methamphetamine. Tổng khối lượng mẫu Q1: 0,149 gam.
Bản kết luận giám định số 1539/KL-KTHS ngày 29-10-2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Không tìm thấy thành phần các chất ma túy thường gặp theo danh mục các chất ma túy do Chính phủ ban hành trong 02 mẫu nước tiểu niêm phong ký hiệu T và T1.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Thị Q khai nhận: Khoảng tháng 7/2022, Quyên đi ra khu vực cầu Lộc Hạ, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định mua Heroine và ma túy tổng hợp dạng “đá” của một người đàn ông không quen biết với giá 1.000.000 đồng. Q mang số ma túy mua được về chia số Heroine thành 08 phần nhỏ rồi dùng ni-lông gói lại; số ma túy tổng hợp dạng “đá” Q chia thành nhiều túi nhỏ. Sau đó Q lại dồn số ma túy tổng hợp dạng “đá” đã chia thành 05 túi nhỏ. Mục đích Q chia nhỏ số ma túy là để bán lại cho người nghiện kiếm lợi. Q đã bán 07 gói Heroine và 05 túi ma túy tổng hợp dạng “đá” cho những người nghiện khác nhau (không rõ tên tuổi, địa chỉ) với giá 100.000 đồng/01 gói Heroine và 200.000 đồng/01 túi ma túy tổng hợp dạng “đá”. Số ma túy còn lại, nếu có ai hỏi mua thì Q sẽ bán. Đến khoảng 12 giờ 30 phút ngày 21-10-2022, khi Q đang ở nhà cùng bạn là anh Nguyễn Văn B thì có người gọi điện rủ Q và chị Nguyễn Thị H (là chị chồng Q) ra ngoài có việc. Lúc này anh B ở lại nhà Q, còn Q đi ra khỏi nhà. Khi Q ra đến đầu ngõ thì Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nam Định yêu cầu Q quay về nhà để làm việc.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nam Định đã thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Trần Thị Q và chuyển toàn bộ hồ sơ, đối tượng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định giải quyết theo thẩm quyền.
Đối với số tiền 3.750.000 đồng thu giữ được tại nhà của Trần Thị Q, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định đã xác định là thuộc sở hữu của chị Trần Thanh H (là con gái Q) nên đã trả lại số tiền trên cho chị Hải.
Đối với anh Nguyễn Văn B do không biết Trần Thị Q tàng trữ ma túy để bán kiếm lời nên không có hình thức xử lý.
Đối với việc Trần Thị Q khai nhận đã bán ma túy cho nhiều người nghiện khác nhau nhưng do chưa đủ căn cứ kết luận nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định đã tách ra để tiếp tục điều tra, xử lý sau.
Đối với đối tượng đã bán ma túy cho Trần Thị Q do chưa đủ căn cứ kết luận nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định đã tách ra để tiếp tục điều tra, xử lý sau.
Bản cáo trạng số 06/CT-VKSTPNĐ ngày 21-12-2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Trần Thị Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị Q đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để bán lại cho người khác nhằm kiếm lợi bất chính như bản cáo trạng đã nêu.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Trần Thị Q tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Trần Thị Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ khoản 1 và khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Thị Q từ 30 tháng tù đến 33 tháng tù.
Phạt tiền đối với bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy vật chứng là số ma túy đã thu giữ, tiêu hủy 02 mẫu nước tiểu, tiêu hủy các vỏ túi ni-lông. Trả lại cho bị cáo Trần Thị Q 01 đầu ghi hình, 04 mắt camera, 01 điện thoại di động có chữ OPPO, 01 căn cước công dân mang tên Trần Thị Q.
Bị cáo Trần Thị Q nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị Q không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
Về tội danh:
Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Thị Q tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản khám xét ngày 21-10-2022; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 21-10-2022; các Bản kết luận giám định số 1538/KL-KTHS ngày 24-10-2022 và 1539/KL-KTHS ngày 29-10-2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở khẳng định: Bị cáo Trần Thị Q đã có hành vi tìm mua ma túy để bán lại cho người khác nhằm kiếm lợi bất chính. Tại thời điểm 13 giờ 45 phút ngày 21-10-2022, bị cáo Trần Thị Q đang tàng trữ trái phép 0,201 gam Heroine và 0,149 gam Methamphetamine tại nhà ở của mình, địa chỉ: Tổ 29 T, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định để bán lại cho người khác thì bị phát hiện, bắt giữ.
Hành vi của bị cáo Trần Thị Q là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy nhằm mục đích bán lại cho người khác bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện; khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ mục đích để bán lại cho người khác là 0,201 gam Heroine và 0,149 gam Methamphetamine, quy đổi tổng tỷ lệ bằng 07% của khối lượng thấp nhất đối với một chất ma túy quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Vì vậy bị cáo Trần Thị Q đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì bị cáo Trần Thị Q đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên sẽ được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Trần Thị Q không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt:
Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Thị Q là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố Nam Định; bản thân bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, với mức hình phạt tương xứng đối với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy bị cáo Trần Thị Q thực hiện hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma túy với mục đích kiếm lợi bất chính nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Tuy nhiên do khối lượng ma túy mà bị cáo tàng trữ để bán lại cho người khác không lớn nên Hội đồng xét xử sẽ chỉ phạt tiền bị cáo ở mức khởi điểm của khung hình phạt bổ sung.
Về xử lý vật chứng:
Số ma túy thu giữ của bị cáo Trần Thị Q là vật cấm lưu hành nên sẽ tịch thu tiêu hủy. Các vỏ túi ni-lông đã thu giữ hiện không còn giá trị sử dụng nên sẽ tịch thu tiêu hủy. Đối với 02 mẫu nước tiểu phục vụ công tác giám định sẽ tiêu hủy.
Đối với 01 đầu ghi hình camera, 04 mắt camera, 01 điện thoại di động có chữ OPPO là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của bị cáo Trần Thị Q, không liên quan đến hành vi phạm tội nên sẽ trả lại cho bị cáo, nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
Đối với 01 căn cước công dân mang tên Trần Thị Q là giấy tờ tùy thân nên sẽ trả lại cho bị cáo.
Về án phí:
Bị cáo Trần Thị Q bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Thị Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ khoản 1 và khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Thị Q 02 năm 06 tháng tù (hai năm sáu tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày 21-10-2022.
Phạt tiền bị cáo Trần Thị Q 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).
2. Xử lý vật chứng:
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ trong phong bì niêm phong số 1538/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định.
Tiêu hủy 02 (hai) mẫu nước tiểu hoàn trả sau giám định, ký hiệu T và T1, số 1539/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định.
Tịch thu tiêu hủy số túi ni-lông đã thu giữ trong phong bì niêm phong ký hiệu Q2.
Trả lại cho bị cáo Trần Thị Q 01 (một) Căn cước công dân mang tên Trần Thị Q.
Trả lại cho bị cáo Trần Thị Q 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO đã cũ; 01 (một) đầu ghi hình camera màu trắng, hình vuông, kích thước khoảng 20x20x5cm, trên bề mặt có chữ VISION được niêm phong và 04 (bốn) mắt camera đều đã cũ, những tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26-12-2022).
3. Án phí:
- Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Trần Thị Q phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo:
Bị cáo Trần Thị Q có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo Trần Thị Q có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND TP. Nam Định (02 bản); - Công an TP. Nam Định; - Chi cục THADS TP. Nam Định; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Minh Tuấn |