vanban.org

Bản án 16/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên Tuyên án 14/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. [2] Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Văn T 02 ( Hai) năm. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ tạm giam 24/12/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? [1] Về tội danh và điều luật áp dụng:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HƯNG YÊN
TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2023/HSST
Ngày: 04/4/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Quang Lịch;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Vũ Thị Thùy Đông.

2. Ông Vũ Văn Hạnh.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Tuấn Thành, thư ký Toà án nhân dân thành phố Hưng Yên;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Đào Ngọc Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 4 năm 2023, tại trụ s Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, t nh Hưng Yên, Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2023/HSST ngày 03 tháng 3 năm 2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2023/HSST - QĐ ngày 20 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Văn T, sinh năm 1977; HKTT: Thôn QT, xã TH, thành phố HY, t nh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 02/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Trần Văn D và bà Trần Thị M; có vợ là Trần Thị Thu H và có 02 người con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2006; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân:

Ngày 28/7/1998 bị Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ xử phạt 06 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản công dân. Bị cáo đã chấp hành xong.

Ngày 08/6/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo đã chấp hành xong ngày 28/01/2018.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/12/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an t nh Hưng Yên

- Bị cáo có mặt tại phiên Tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 15 phút ngày 24/12/2022, tại khu vực trước ruộng nhà ông Đặng Văn Đằng thuộc đoạn đường liên thôn thôn PT, xã PC, thành phố HY tổ công tác của Công an thành phố Hưng Yên phát hiện, bắt quả tang Trần Văn T, sinh năm 1977 trú tại thôn QT, xã TH, thành phố HY, t nh Hưng Yên có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tại chỗ thu giữ trong lòng bàn tay bên phải của Trần Văn T đang cầm 01 gói giấy bạc bên trong có chứa chất màu trắng dạng cục, bột. T khai nhận gói giấy trên chứa ma túy (Heroine) của T cất giấu để sử dụng. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng và đưa T về trụ s để làm việc.

Quá trình điều tra Trần Văn T khai nhận: Khoảng 16 giờ 20 phút ngày 24/12/2022 T đi bộ từ nhà đến khu vực xã PC, thành phố HY để mua ma túy. Khi đi đến cánh đồng thôn PT, xã PC thì T có gặp một người đàn ông khoảng 50 tuổi, người cao gầy có dáng vẻ giống người nghiện. T đến gần và hỏi “Anh có ma túy để cho tôi hai trăm”. Người đàn ông bảo “Có, đưa tiền đây”. T đưa 200.000 đồng thì người này đưa lại cho T 01 gói giấy bạc bên trong có chứa chất màu trắng dạng cục, bột. Do là người nghiện ma túy nên T biết đây là ma túy heroine. T cầm gói ma túy trong lòng bàn tay phải rồi đi bộ về. Khi đi về đến khu vực ruộng nhà ông Đặng Văn Đằng thuộc đoạn đường liên thôn PT, xã PC, thành phố Hưng Yên thì bị lực lượng công an bắt quả tang.

Ngày 24/12/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hưng Yên tiến hành khám xét khẩn cấp nơi của Trần Văn T tại thôn QT, xã TH, thành phố Hưng Yên, t nh Hưng Yên. Kết quả khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Kết luận giám định số 52/KL-KTHS(MT) ngày 27/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an t nh Hưng Yên kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong, có khối lượng là:0,182g (không phẩy một tám hai gam), là ma túy, là loại:Heroin. Hoàn lại trong một niêm phong ghi số 52/KL-KTHS(MT), bên trong có: 0,170g (Không phẩy một bẩy không gam) ma túy, loại: Heroin, 01 (một) mảnh giấy bạc gói ma túy và 01 (một) vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.

Kiểm tra nhanh chất ma túy đối với Trần Văn T, kết quả dương tính với ma túy Heroin.

Vật chứng thu giữ: 01 gói giấy bạc bên trong có chứa chất màu trắng dạng cục bột. Niêm phong trong 01 phong bì dán kín.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho T tại khu vực cánh đồng thôn PT, xã PC, thành phố Hưng Yên: T khai không quen biết, mới gặp lần đầu nên không biết tên, tuổi, địa ch của người này. Khi mua ma túy không có ai chứng kiến nên không có đủ thông tin để xác minh về người đàn ông trên.

Tại bản cáo trạng số: 08/CT-VKS-TPHY ngày 03/3/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên, t nh Hưng Yên đã truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, đồng thời đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hư ng mức án thấp nhất để cải tạo tốt, sớm được tr về với gia đình và xã hội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên luận tội giữ nguyên quyết định đã truy tố đối với bị cáo theo bản cáo trạng, đồng thời đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 24/12/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy 01 ( Một ) phong bì niêm phong hoàn mấu gửi giám định của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an t nh Hưng Yên số 52/KL – KTHS ( MT), bên trong có chứa 0,170g Heroin; 01 (một) mảnh giấy bạc gói ma túy và 01 (một) vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Trong giai đoạn điều tra và truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành phố Hưng Yên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục như ban hành các quyết định tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụng. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người làm chứng; phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên toà, như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Bản kết luận giám định số 52/KL-KTHS(MT) ngày 27/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an t nh Hưng Yên, cùng với các tài liệu khác có liên quan trong hồ sơ vụ án, nên đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 17 giờ 15 phút ngày 24/12/2022 tại khu vực đường thôn PT, xã PC, thành phố Hưng Yên, t nh Hưng Yên, Trần Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,182 (Không phẩy một tám hai) gam ma túy, loại Heroin nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên đã truy tố bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên là chính xác, đúng pháp luật.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo có bố đẻ được nhà nước trao tặng Huân chương kháng chiến hạng ba, nên bị cáo được hư ng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về quyết định hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; bị cáo đã được nhà nước giáo dục bằng hình phạt tù về ma túy, nên nhận thức rõ được tác hại của chất ma túy đến sức khỏe con người cũng như làm suy kiệt về kinh tế, đồng thời là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác nhưng bị cáo vẫn cố tình đi mua ma túy tàng trữ để sử dụng thể hiện sự coi thường pháp luật nên cần phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội trong một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo và làm bài học chung trong công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

[5] Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy 01 ( Một ) phong bì niêm phong hoàn mấu gửi giám định của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an t nh Hưng Yên số 52/KL – KTHS ( MT), bên trong có chứa 0,170g Heroin; 01 (một) mảnh giấy bạc gói ma túy và 01 (một) vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.

[7] Án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14;

[8] Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

[1] Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 136 BLTTHS và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về chế độ án lệ phí Tòa án.

[2] Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Văn T 02 ( Hai) năm. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ tạm giam 24/12/2022.

[3] Về vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số Heroin đã thu giữ của bị cáo do cơ quan giám định hoàn mẫu vật, có tổng trọng lượng 0,170g Heroine; 01 mảnh giấy màu trắng đựng Heroine và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định;

( Tình trạng, số lượng vật chứng theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng của Cơ quan điều tra giao cho Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Hưng Yên).

[4] Án phí: Buộc bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ