- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Trường S phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật hình sự xử phạt
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƢỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2023/HS-ST Ngày: 08/5/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƢỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Bình
Thẩm phán
Ông Lê Quang Ninh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lương Thị Diệu
Bà Nguyễn Thị Linh
Ông Điểu Lành
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Phương Tuyết, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Tuấn, Kiểm sát viên.
Trong các ngày 04 và 08/5/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 10/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2023/QĐXXST-HS ngày 17/3/2023 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Phạm Trƣờng S; sinh ngày 06/11/1992 tại Bình Phước; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Ấp TH 1, xã TL, huyện ĐP, tỉnh Bình Phước; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ học vấn: 2/12; họ tên cha: Phạm Văn N (đã chết); họ tên mẹ: Nguyễn Thị D, sinh năm 1953; bị cáo chưa có vợ, con; gia đình bị cáo có 04 A1 chị em, lớn nhất sinh năm 1983, nhỏ nhất sinh năm 1994; bị cáo là con thứ ba trong gia đình; tiền sự: Không.
Tiền án: Có 02 tiền án.
- Ngày 20/8/2013, bị Tòa án nhân dân huyện BGM xử phạt 08 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 12/02/2018.
- Ngày 31/7/2019, bị Tòa án nhân dân huyện ĐP, tỉnh Bình Phước xử phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt ngày 12/10/2021.
Bị cáo bị tạm giữ, tam giam từ ngày 30/3/2022 đến nay.
2. Họ và tên: Dƣơng ThA1 S1; sinh ngày 12/02/1984 tại Bình Phước; nơi đăng ký HKTT: Ấp 4, xã TH, thành phố ĐX, tỉnh Bình Phước; chỗ ở: Ấp TH 1, xã TL, huyện ĐP, tỉnh Bình Phước; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; họ tên cha: Dương Đức H, sinh năm 1952; họ tên mẹ: Võ Thị L, sinh năm 1954; họ tên vợ: (Đã ly hôn); bị cáo có 05 người con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2012 và gia đình bị cáo có 07 A1 chị em, lớn nhất sinh năm 1975, nhỏ nhất sinh năm 1988; bị cáo là con thứ sáu trong gia đình; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 28/01/2019, bị TAND thành phố ĐX, tỉnh Bình Phước xử phạt 05 tháng 04 ngày tù giam về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Bị cáo bị tạm giữ, tam giam từ ngày 30/3/2022 đến nay.
3. Họ và tên: Dƣơng Hoàng Yến N; tên gọi khác: Mèn; sinh ngày 06/02/2001 tại Bình Phước; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Ấp TH 1, xã TL, huyện ĐP, tỉnh Bình Phước; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; họ tên cha: Dương Hùng S2, sinh năm 1977; họ tên mẹ: Lê Hoàng Phương D1, sinh năm 1980; bị cáo chưa có chồng và có 01 người con sinh năm 2019 và có 01 người em sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/3/2023 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Trường S: Luật sư Ngô Quốc Ch; sinh năm: 1973.
Địa chỉ: Văn phòng luật sư QT, Đoàn luật sư tỉnh Bình Phước. Có mặt.
Người làm chứng:
1. Chị Nguyễn Tường V; sinh năm: 2006.
Địa chỉ: Tổ 6, thôn TH, xã BN, huyện PR, tỉnh Bình Phước. Vắng mặt.
2. Ông Lê Đức Q; sinh năm: 1996.
Địa chỉ: Ấp 1, xã TH, thành phố ĐX, tỉnh Bình Phước. Vắng mặt.
3. A1 Nguyễn Hồng K; sinh năm: 2004.
Địa chỉ: Ấp TT 1, xã TL, huyện ĐP, tỉnh Bình Phước. Vắng mặt.
4. A1 Nông Tuấn L; sinh năm: 2000.
Địa chỉ: Ấp TT, xã TP, huyện ĐP, tỉnh Bình Phước. Vắng mặt.
5. Bà Đỗ Thị Lan A1; sinh năm: 1996.
Địa chỉ: Ấp TP, xã TL, huyện ĐP, tỉnh Bình Phước. Vắng mặt.
6. Bà Trần Thị Thùy L1; sinh năm: 1991.
Địa chỉ: Ấp TH 1, xã TL, huyện ĐP, tỉnh Bình Phước. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Trường S và Dương ThA1 S1 là bạn bè quen biết nhau, S1 thuê S chăn nuôi gà cho S1 và ăn ở tại ấp TH 1, xã TL, huyện ĐP, tỉnh Bình Phước. Bản thân S và S1 là người sử dụng chất ma túy [BL 471, 576 và 580].
Để có ma túy sử dụng, khoảng 17 giờ ngày 29/3/2022, S gọi điện vào số 0774.500.710 của một người đàn ông tên Hợi (không rõ nhân thân, lai lịch, số điện thoại này do 01 người sử dụng chung ma túy với S cho, nhưng do lâu bị cáo không nhớ ai cho) ở Thành phố Hồ Chí Minh hỏi mua 01 bánh heroin với giá 240.000.000 đồng. Hai bên thống nhất ngày 30/3/2022 gặp nhau tại khu vực chợ BT, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh để giao tiền và nhận ma túy. Đến khoảng 07 giờ 00 phút, ngày 30/3/2022, S nói S1 gọi dùm xe dịch vụ chở S đi công chuyện, S1 gọi điện thuê Lê Đức Q cư trú tại ấp 1, xã TH, thành phố ĐX, tỉnh Bình Phước chở S đi. Sau đó Q điều khiển xe ô tô biển số 93A -157.78 đến khu vực nuôi gà của S1 chở S đi đến khu vực chợ BT, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh. S nói Q dừng xe chờ, còn S đi vào trong chợ BT. S gọi điện vào số 0774.500.710 gặp một người thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch). Khi gặp người thanh niên, người này chở S đi đến chỗ vắng người, S giao cho người thanh niên 157.000.000 đồng tiền mặt và chuyển khoản 83.000.000 đồng, người thanh niên đưa cho S một túi nylon màu đen, S mở ra thấy bên trong có một bánh heroin, S bỏ túi nylon đựng bánh heroin vào túi xách màu xám - đen đang đeo trên người, sau đó người thanh niên chở S quay lại vị trí cũ rồi Q chở S về Bình Phước.
Đến khoảng 14 giờ 45 phút, ngày 30 tháng 3 năm 2022, khi Q điều khiển xe chở S về đến khu vực đường ĐT741 đoạn thuộc ấp TP 1, xã TP, huyện ĐP, tỉnh Bình Phước, thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Bình Phước phối hợp với L lượng chức năng kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra phát hiện trên xe có Q và S. Trong khi kiểm tra S khai trên đường mua ma túy từ Thành phố Hồ Chí Minh về nghi vấn có người theo dõi nên đã ném ma túy ở khu vực gần cầu PH, huyện PG, tỉnh Bình Dương. Sau đó, L lượng chức năng đưa S và Q quay lại nơi S ném ma túy thì phát hiện (01) một túi nylon màu đen chứa một bánh heroin, kích thước (15,5x10,5x2,5)cm trên bề mặt có logo hình tròn và chữ “DOUBLE UOGELOBE BRAND”, nằm trên đám cỏ bên lề đường gần cầu PH thuộc ấp 1A, xã PH, huyện PG, tỉnh Bình Dương. S thừa nhận túi nilon màu đen chứa một bánh heroin này là của S vứt xuống. L lượng chức năng tiến hành lập Biên bản tạm giữ một bánh heroin và tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với S [BL
Ngoài ra S còn 04 lần đi thành phố Hồ Chí Minh và Tây Ninh mua ma túy về để sử dụng, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Tháng 11/2021 (Không rõ ngày), S gọi điện thoại cho Hợi hỏi mua ma túy, Hợi và S hẹn gặp nhau tại khu vực huyện TB, tỉnh Tây Ninh, rồi S điều khiển xe mô tô của S (không rõ biển kiểm soát) đi đến điểm hẹn và S mua của Hợi 2.000.000 đồng ma túy đá về sử dụng.
Lần thứ hai: Cách lần thứ nhất khoảng 4-5 ngày, S tiếp tục gọi điện thoại cho Hợi hỏi mua ma túy, Hợi và S hẹn gặp nhau tại khu vực huyện TB, tỉnh Tây Ninh, rồi S điều khiển xe mô tô của S đi đến điểm hẹn và S mua của Hợi 01 bịch Hêrôin với giá 3.000.000 đồng về sử dụng.
- Lần thứ ba: Khoảng giữa tháng 02/2022 (không rõ ngày), S mượn của S1 83.000.000 đồng, S gọi điện cho Hợi hỏi mua ma túy, S tiếp tục gọi điện thoại cho Hợi hỏi mua ma túy, Hợi và S hẹn gặp nhau tại khu vực huyện TB, tỉnh Tây Ninh để nhận ma túy, rồi S thuê Q chở đi đến điểm hẹn mua 83.000.000 đồng ma túy đá về sử dụng.
- Lần thứ tư: Khoảng chiều ngày 22/3/2022, S mượn của S1 65.000.000 đồng, S tiếp tục gọi điện cho Hợi hỏi mua ma túy, Hợi và S hẹn gặp nhau tại khu vực Chợ BT, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để nhận ma túy, rồi S thuê Q chở đi đến điểm hẹn mua của Hợi 01 bịch Hêrôin với giá 65.000.000 đồng về sử dụng [BL 469 – 480, 466 – 468].
Cùng ngày cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bình Phước tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Trường S và Dương ThA1 S1 tại ấp TH 1, xã TL, huyện ĐP, tỉnh Bình Phước phát hiện Dương ThA1 S1 và Dương Hoàng Yến N tổ chức cho Nguyễn Thị Tường V sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể như sau:
Khoảng 13 giờ 00 phút, ngày 30/3/2022, S1 đi đến quán bida của Dương Hùng Long (gần nhà S1), thấy có Dương Hoàng Yến N, cư trú tại ấp TH 1, xã TL, huyện ĐP, tỉnh Bình Phước; Nguyễn Thị Tường V, cư trú tại ấp TH, xã BN, huyện PR, tỉnh Bình Phước; Nguyễn Hồng K, cư trú tại ấp TH, xã TL, huyện ĐP, tỉnh Bình Phước; Đỗ Thị Lan A1 (tên thường gọi Su), cư trú tại ấp TP, xã TP, ĐP, Bình Phước và Dương Tấn L3; Cu và Bằng (không rõ nhân thân lai lịch). Tại đây N nói với S1 “có đồ chỗ này ngon lắm mà không tiền mua” (ý nói có chỗ bán ma túy đá ngon) thì S1 hỏi cần mua bao Nêu tiền, N nói giá 600.000 đồng. Lúc này S1 gọi điện thoại cho Trần Thị Thùy L1 là vợ của S1 và nhắn số tài khoản của N cho L1, yêu cầu L1 chuyển số tiền 3.000.000 đồng để mua gà nhưng mục đích để mua ma túy 600.000 đồng, số tiền còn dư để chơi game. Sau đó, N mượn xe máy của K rồi rủ V đi cùng đi xuống ĐX để mua ma túy. Trên đường đi L1 chuyển 3.000.000 đồng vào tài khoản của N. Khi đi đến gần chợ đêm ĐX, N nói V xuống xe vào quán cà phê ngồi đợi, rồi N điều khiển xe đi một mình đến khu vực đường HBT thuộc phường TP, thành phố ĐX gặp một người tên Trang (không rõ họ). Sau đó Trang chở N đến phòng số 02 nhà nghỉ Hoa Đăng gặp một người phụ nữ (không rõ nhân thân, lai lịch). Trang hỏi mua 600.000 đồng ma túy, người phụ nữ đưa cho Trang 03 gói nylong bên trong có chứa ma túy đá, N chuyển vào tài khoản Ngân hàng số 050124245882 cho người phụ nữ này số tiền 600.000 đồng (số tài khoản này do Nguyễn Văn S3, cư trú tại thôn 7, xã Bom Bo, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước đứng tên), N nạp card điện thoại cho S1 hết 1.000.000 đồng và V 200.000 đồng, còn lại 2.400.000 đồng S1 cho N để mua son phấn. Sau đó, N và Trang đi về, khi ra khỏi cổng nhà nghỉ Trang đưa 03 gói ma túy cho N. N chở Trang về phòng trọ của Trang, rồi N quay lại quán cà phê đón V về bàn bida trả xe cho K. Sau đó N và V đi qua khu vực chuồng nuôi gà của S1, N đưa cho S1 03 bịch nylong chứa ma túy đá. S1 lấy 01 bộ dụng cụ để sử dụng ma túy đá đem vào phòng ngủ và cho ma túy vào rồi sử dụng. Lúc này, S1 rủ V và N sử dụng chung, thì V đồng ý và sử dụng chung với S1, còn N do có con nhỏ nên không sử dụng. Một lúc sau có Đỗ Thị Lan A1 đến, S1 rủ Lan A1 sử dụng ma túy, nhưng Lan A1 không sử dụng. Sau đó N và Lan A1 quay lại bàn bida chơi, còn S1 và V ở lại phòng chơi game [509 – 542, 563 – 571, 624 - 641].
* Tang vật thu giữ của Phạm Trường S gồm:
- 01 túi nylon màu đen chứa một vật thể rắn hình hộp kích thước (15,5x10,5x2,5)cm trên bề mặt có logo hình tròn và chữ “DOUBLE UOGELOBE BRAND”.
- 01 điện thoại hiệu NOKIA 105 màu đen;
- 01 điện thoại Iphone 11 màu xA1;
- 01 điện thoại Iphone 8 Plus màu đen;
- 01 CMND số 285478985 mang tên Phạm Trường S;
- Số tiền 1.740.000 đồng (Một triệu bảy trăm bốn mươi nghìn đồng);
- 01 xe ô tô hiệu TOYOTA VIOS biển số 93A-157.78.
* Tang vật thu giữ khi khám xét chỗ ở của Dương ThA1 S1 và Phạm Trường S:
- 01 túi nylon màu trắng có khóa miết kích thước (14,7x 21,4)cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng.
- 01 túi nylon màu trắng có khóa miết kích thước (03x 04)cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng.
- 01 ống thủy tinh màu trắng trong dài 17cm, một đầu phình to, bên trong đầu phình to có chứa chất dạng tinh thể đã được nung chảy.
- 01 điện thoại hiệu Iphone XS Max bị vỡ màn hình phía trước và phía sau;
- 02 điện thoại hiệu NOKIA màu đen không có thẻ sim;
- 01 điện thoại hiệu itel màu đen không có thẻ sim;
- 01 hộp quẹt gas;
- 01 chai nhựa và 01 ống hút bằng nhựa;
* Tang vật thu giữ của Dương Hoàng Yến N
- 01(một) điện thoại hiệu OPPO.
Tại Bản kết luận số 2019/KL-KTHS ngày 06/4/2022 của Phân viện KHHS tại Tp Hồ Chí Minh kết luận:
- Gói 1: Chất màu trắng đựng trong một gói nylon gửi giám định là ma túy, khối lượng 351,9 gam, loại Heroin.
- Gói 2: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 gói nylon gửi giám định là ma túy, khối lượng 10,0903 gam, loại Methamphetamine;
- Gói 3: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 gói nylon gửi giám định là ma túy, khối lượng 0,2664 gam, loại Methamphetamine;
- Gói 4: Tinh thể màu trắng trong đầu hình khối cầu của ống thủy tinh gửi giám định là ma túy có khối lượng 0,002 gam, loại Methamphetamine.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo:
Bị cáo Phạm Trường S thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng mà Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước truy tố đối với bị cáo về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Các bị cáo Dương ThA1 S1, Dương Hoàng Yến N không thừa nhận hành vi phạm tội của các bị cáo như bản cáo trạng đã truy tố các bị cáo về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy Nên ở phần lời nói sau cùng, các bị cáo đều xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo sớm về với gia đình và xã hội.
Quan điểm của Đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa:
- Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Phạm Trường S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b khoản 4 Điều 249 BLHS. Các bị cáo Dương ThA1 S1 và Dương Hoàng Yến N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 2 Điều 255 BLHS.
- Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50; Điều 53 BLHS đề nghị HĐXX tuyên phạt bị cáo Phạm Trường S mức án từ 19 đến 20 năm tù.
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 255; khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 BLHS đề nghị HĐXX tuyên phạt bị cáo Dương ThA1 S1 và Dương Hoàng Yến N mỗi bị cáo mức án từ 07 đến 08 năm tù.
- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
b) Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Ngày 14/4/2022, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bình Phước đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 13/QĐ-CSMT trả lại cho ông Bùi Phước Đức, cư trú tại khu phố Tân Bình, phường Tân Bình, thành phố ĐX, tỉnh Bình Phước 01 xe ô tô hiệu TOYOTA VIOS, biển số 93A-157.78, số máy 2NRX452685, Số khung 3F34K5067052.
Đối với 01 túi niêm phong có mã số NS1A 062198, bên trong có một túi nylon màu đen chứa một vật thể rắn hình hộp kích thước (15,5x10,5x2,5)cm trên bề mặt có logo hình tròn có chữ “DOUBLE UOGELOBE BRAND”, ở giữa logo có hình hai con sư tử đựng ma tuý hoàn lại sau giám định; 01 hộp quẹt gas, 01 chai nhựa; 01 ống hút bằng nhựa; 01 túi nylon màu trắng có khóa miết kích thước (14,7x 21,4)cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng; 01 túi nylon màu trắng có khóa miết kích thước (03x 04)cm; 01 ống thủy tinh màu trắng trong dài 17cm, một đầu phình to; 01 bì thư bên trong đựng ma túy hoàn lại sau giám định được niêm phong ghi vụ số 2019, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Phước Ninh, Điều tra viên Trần Xuân Tiến và hình dấu tròn màu đỏ của Phân viện KHHS tại Tp Hồ Chí Minh là vật chứng trong vụ án, nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại hiệu NOKIA 105 màu đen; 01 điện thoại Iphone 8 Plus màu đen; 01 điện thoại hiệu OPPO là công cụ S và N dùng để liên lạc và chuyển tiền cho các đối tượng bán ma túy, nên tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước.
Đối với 01 điện thoại Iphone 11 màu xA1 là tài sản của S liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Đối với 01 điện thoại hiệu Iphone XS Max (bị vỡ màn hình); 02 điện thoại hiệu NOKIA màu đen, 01 điện thọa hiệu ITEL là tài sản của Dương ThA1 S1, không liên quan đến hành vi phạm tội của S, S1 và N nên cần trả lại cho S1.
Đối với số tiền 1.740.000 đồng (Một triệu bảy trăm bốn mươi nghìn đồng) là tài sản của S, không liên quan đến vụ án, nên cần trả lại cho S.
Đối với 01 CMND số 285478985 mang tên Phạm Trường S là giấy tờ cá nhân của S, nên trả lại cho S.
c) Về trách Nệm dân sự: Không.
Quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo Phạm Trường S:
Luật sư không có ý kiến gì về tội dA1 mà Viện Kiểm sát truy tố đối với bị cáo. Luật sư cho rằng bị cáo có Nều tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là lao động chính trong gia đình, có hoàn cảnh khó khăn, cha bị cáo mất khi bị cáo còn nhỏ, bị cáo lớn lên thiếu tình thương của cha, bị cáo là người có trình độ học vấn thấp. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trên giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trA1 tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an tỉnh Bình Phước, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Phạm Trường S khai nhận:
Khoảng 17 giờ ngày 29/3/2022, S gọi điện vào số 0774.500.710 của một người đàn ông tên Hợi (không rõ nhân thân, lai lịch) ở Thành phố Hồ Chí Minh hỏi mua 01 bánh heroin với giá 240.000.000 đồng. Hai bên thống nhất ngày 30/3/2022 gặp nhau tại khu vực chợ BT, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh để giao tiền và nhận ma túy. Đến khoảng 07 giờ 00 phút, ngày 30/3/2022, S nói S1 gọi dùm xe dịch vụ chở S đi công chuyện, S1 gọi điện thuê Lê Đức Q cư trú tại ấp 1, xã TH, thành phố ĐX, tỉnh Bình Phước chở S đi. Sau đó Q điều khiển xe ô tô đến khu vực nuôi gà của S1 chở S đi đến khu vực chợ BT, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. S nói Q dừng xe chờ, còn S đi vào trong chợ BT. S gọi điện vào số 0774.500.710 gặp một người thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch). Khi gặp người thanh niên, người này chở S đi đến chỗ vắng người, S giao cho người thanh niên 157.000.000 đồng tiền mặt và chuyển khoản 83.000.000 đồng, người thA1 niên đưa cho S một túi nylon màu đen, S mở ra thấy bên trong có một bánh heroin, S bỏ túi nylon đựng bánh heroin vào túi xách màu xám - đen đang đeo trên người, sau đó người thA1 niên chở S quay lại vị trí cũ rồi Q chở S về Bình Phước. Khi đi đến khu vực huyện PG, tỉnh Bình Dương nghi vấn có người theo dõi nên đã ném ma túy ở khu vực gần cầu PH, huyện PG, tỉnh Bình Dương. Sau đó đi về đến xã TL, huyện ĐP thì bị Công an kiểm tra bắt giữ.
Bị cáo Dương ThA1 S1 khai nhận: Khoảng 13 giờ ngày 30/3/2022 S1 đến quán bida của A1 trai tên Dương Hùng Long thì thấy có Dương Hoàng Yến N, Nguyễn Thị Tường V, Nguyễn Hồng K, Đỗ Thị Lan A1 nhậu cùng Dương Tấn L3, Cu và Bằng. Tại đây N nói với S1 “có đồ chỗ này ngon lắm mà không có tiền mua” thì S1 hỏi cần mua bao Nêu, N nói 600.000 đồng. Lúc này S1 gọi điện cho Trần Thị Thùy L1 và nhắn số tài khoản của N cho L1, yêu cầu L1 chuyển số tiền 3.000.000 đồng để mua gà nhưng thực chất là để mua ma túy 600.000 đồng, số tiền còn lại để chơi game. Sau đó S1 về nhà thay đồ, ra khu vực nuôi gà tắm cho gà. Khoảng 15 phút sau thì N đi bộ vào khu vực nuôi gà và đưa cho S1 một gói ma túy đá. Sau đó, S1 cầm gói ma túy đi vào phòng ngủ, lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy rồi hút hết số ma túy N mua về. Tiếp đó, S1 ngồi chơi game thì có N và V vào ngồi chơi, tiếp đó có Lan A1 qua ngồi chơi. Một lúc sau thì N, V, Lan A1 đi về thì S1 cất bộ dụng cụ sử dụng ma túy vào chỗ cũ. Sau đó, Công an đến khám xét chỗ ở của S1 và phát hiện bộ dụng cụ. Bị cáo cho rằng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là oan cho bị cáo vì bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, bị cáo có sử dụng ma túy vào ngày 30/3/2022 và bị cáo chỉ sử dụng một mình không rủ ai cùng sử dụng.
Bị cáo Dương Hoàng Yến N khai nhận tại phiên tòa như sau:
Vào khoảng 11 giờ ngày 30/3/2022, N từ nhà của ba mẹ N đi xuống quán bida của Dương Hùng Long. Tại quán bida có Nguyễn Thị Tường V, Đỗ Thị Lan A1, Nguyễn Hồng K, Danh Tấn L3, Dũng và Giã (không rõ nhân thân, lai lịch) đang ngồi nhậu nên N vào ngồi nhậu chung. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày thì Dương ThA1 S1 (chú ruột của N) đến quán ngồi nhậu chung, lúc này N nói với V có chơi ma túy đá không thì V trả lời có. Sau đó, N quay qua nói với S1 có chỗ này có ma túy ngon mà không có tiền mua. S1 nói N bao Nêu, N nói: Sáu trăm. Sau đó, S1 nói N đi mua đi S1 sẽ chuyển tiền cho N. Sau đó N và V đi mượn xe của K nói đi mua son. Sau đó N chở V đi về hướng thành phố ĐX. Khi đi đến gần chợ Đêm ĐX, N nói V xuống xe vào ngồi quán cà phê, rồi N điều khiển xe đến phòng trọ của Trang tại khu vực phường TP, thành phố ĐX, tỉnh Bình Phước. Sau khi gặp Trang, Trang chở N qua nhà nghỉ Hoa Đăng đến phòng số 2. Trang hỏi mua 600.000 đồng ma túy, một người phụ nữ trong phòng đưa cho Trang 03 gói nilong bên trong chưa ma túy đá và đọc số tài khoản để N chuyển tiền. Tiếp đó, N và Trang đi về, N quay lại quán cà phê đón V về và trả xe cho K. Sau đó N qua khu vực chuồng gà của S1, lúc này S1 đang trong phòng ngủ, N thấy có 01 bộ sử dụng ma túy trong phòng. N đưa cho S1 số ma túy đã mua được. S1 cho ma túy vào bộ dụng cụ để sử dụng. Sau đó mời V và N sử dụng. N không sử dụng nhưng không biết V có sử dụng ma túy với S1 không.
Tại phiên tòa sơ thẩm người làm chứng Nguyễn Thị Tường V vắng mặt. Tuy Nên theo lời khai của người làm chứng Nguyễn Thị Tường V tại các bút lục từ 625 – 640 thì Vi khai nhận như sau: Khi V và N đi mua ma túy về đến quán bi da của Dương Hùng Long, N không thấy S1 thì rủ V đi qua khu chuồng gà tìm thì thấy S1 đang ở trong phòng ngủ. Khi vào trong phòng, N ngồi trên giường, S1 ngồi trên nệm đặt dưới nền còn V ngồi trên nệm với S1. N hỏi V có chơi game M88 không thì V trả lời có. Lúc này S1 với lấy 01 gói nilong chứa ma túy trên bàn rồi cắt ra cho vào nỏ thủy tinh được cắm vào chai nhựa có gắn một ống hút. Sau đó, S1 đốt nóng nỏ thủy tinh và sử dụng ma túy. S1 rủ N sử dụng nhưng N từ chối. S1 quay ra mời V sử dụng và đốt nóng nỏ thủy tinh để V hút ma túy. Sau đó, S1 và V tiếp tục sử dụng ma túy, con N ngồi nạp tiền game cho S1 và V chơi. Một lúc sau có L lượng công an đến kiểm tra S1 đem bộ dụng cụ sử dụng ma túy cất đi, sau đó L lượng công an phá hiện và thu giữ bộ dụng cụ sử dụng ma túy mà S1 và V sử dụng đồng thời mời những người có liên quan về trụ sở công an làm việc.
Căn cứ theo bản tường trình, biên bản ghi lời khai của bị cáo Dương ThA1 S1 tại các bút lục từ 561 đến bút lục 585 bị cáo khai: Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, Mèn đi bộ từ bàn bida qua chuồng gà rồi quay lại gọi V cùng qua. Sau đó Mèn đưa cho tôi một gói nilong hình chữ nhật bên trong đựng 03 gói nilong nhỏ đựng ma túy đá. Tôi lấy bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy đá của tôi có sẵn trong chuồng gà ra, xé cả ba gói ma túy Mèn đưa bỏ hết vào nỏ thủy tinh rồi dùng bật lửa đốt nóng rồi tôi đốt hút thử xem đồ có ngon không. Sau đó tôi mời V và Mèn sử dụng ma túy đá nhưng Mèn không chơi, còn V cầm lên hút 02 – 03 khói. Sau đó Mèn rủ bé Su (không rõ họ tên) qua chơi, tôi cầm bình đưa cho Su và nói Su chơi nhưng Su từ chối, chỉ có tôi và V sử dụng ma túy đá. Mèn nói Su không chơi thì qua kia nhậu.
Tại các biên bản tường trình, tự khai, biên bản ghi lời khai đối với Dương Hoàng Yến N từ ngày 30/3/2022 đến ngày 07/4/2022 tại các bút lục 509 đến 530, bị cáo N khai nhận:… Tôi trả xe cho K và rủ V qua bên chỗ chú S1. Sau đó tôi cầm ma túy vừa mua được đưa tận tay cho chú S1, tiếp theo đó chú S1 lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy ra bao gồm một chai nhựa trên nắp đục thủng 02 lỗ, một ống hút, 01 đoạn thủy tinh uốn cong phình to một đầu. Lúc này tôi thấy chú S1 lấy 01 bịch ma túy ra dùng kéo cắt một đầu cho ma túy bên trong bịch vào ống thủy tinh cắm vào chai nhựa, dùng bật lửa đốt và dùng ống hút, hút thử một hơi rồi mồi tiếp và mời bé V hút một hơi. Sau đó chú S1 có mời tôi chơi nhưng tôi không chơi. Lúc này có chị Su tên đầy đủ là Đỗ Thị Lan A1 từ bên quán bida qua, chú S1 có mời Su chơi nhưng Su cũng không chơi. Sau đó, tôi và Su quay lại quán bida để nhậu tiếp còn chú S1 và V vẫn ở trong phòng tiếp tục sử dụng ma túy.
Tại các bản tự khai, biên bản ghi lời khai đối với người làm chứng Đỗ Thị Lan A1 từ ngày 30/3/2022 đến ngày 07/4/2022 tại các bút lục 694 đến 699, chị Lan A1 khai như sau:… Khoảng 05 phút sau thì S1 đến khu vực chuồng gà mà S1 ở. Lúc này V và N (Mèn) đi qua ngồi với A1 S1. Đợi một lúc thấy N lâu quay lại nhậu nên tôi qua khu vực chuồng gà của A1 S1 thì thấy trong phòng ngủ lúc này có A1 S1 và V ngồi trên tấm nệm đặt giữa phòng ngủ, ở giữa có một bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá. Còn N ngồi trên giường. Khi thấy tôi đến thì A1 S1 có mời tôi chơi ma túy đá nhưng tôi không chơi. Tôi rủ N quay lại quán bida để tiếp tục nhậu thì N đồng ý và đi cùng tôi, tôi ra khỏi phòng ngủ của khu vực chuồng gà. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày thì L lượng công an đến kiểm tra khu vực nuôi gà của A1 S1 thì phát hiện A1 S1 và V có sử dụng trái phép chất ma túy, thu giữ mộ số tang vật là ma túy và dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy.
Bị cáo S1 thừa nhận giữa bị cáo và V, Lan A1, bị cáo N không có mâu thuẫn. Tại các bút lục 561 – 585, 509 – 530 các bị cáo Dương ThA1 S1, Dương Hoàng Yến N khai nhận chính bị cáo S1 là người lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy, cho ma túy vào dụng cụ, đốt nóng ma túy lên sử dụng và mời bị cáo N và V, Su cùng sử dụng nhưng bị cáo N, Su không sử dụng, sau này bị cáo S1 không thừa nhận rủ V, N, Su cùng sử dụng ma túy, bị cáo N thay đổi lời khai không biết V có sử dụng ma túy với S1 không. Nhưng căn cứ vào bản tường trình, bản tự khai, biên bản ghi lời khai tại các bút lục từ 561 đến 585 của bị cáo S1, từ bút lục 509 đến 530 của bị cáo N, từ bút lục 625 đến bút lục 640 của người làm chứng V, từ bút lục 694 đến bút lục 699 của chị Lan A1 thì đủ cơ sở khẳng định bị cáo S1 là người cung cấp tiền cho bị cáo N cùng V đi đến thành phố ĐX, tỉnh Bình Phước mua 600.000 đồng ma túy mang về cho S1. Tại phòng ngủ của S1, sau khi có ma túy S1 cho ma túy vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm một chai nhựa trên nắp đục thủng 02 lỗ, một ống hút, 01 đoạn thủy tinh uốn cong phình to một đầu, dùng bật lửa đốt nóng ma túy sử dụng và mời bị cáo N, V, Lan A1 sử dụng. Trong đó bị cáo N, Lan A1 không sử dụng. Bị cáo S1 là người làm nóng ma túy cho V sử dụng. Tại kết quả kiểm tra ngày 30/3/2022, Nguyễn Thị Tường Vi dương tính với chất ma túy. Do đó, việc bị cáo S1 cho rằng bị cáo chỉ sử dụng ma túy một mình, không rủ ai cùng sử dụng là không có căn cứ.
Từ những lời khai của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản Kết luận giám định, lời khai của người làm chứng, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng của vụ án cùng những tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Ngày 30/3/2022, Phạm Trường S thuê Lê Đức Q điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 93A-157.78 chở S đến khu vực chợ BT thuộc Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh mua 01 bánh Heroin có khối lượng 351,9 gam, với giá 240.000.000 đồng đem về nhà tại ấp TH 1, xã TL, huyện ĐP, tỉnh Bình Phước cất giấu để sử dụng. Cùng ngày, trong lúc ngồi uống rượu Dương Hoàng Yến N nói cho Dương ThA1 S1 biết có chỗ bán ma túy ngon, thì S1 đồng ý và chuyển vào tài khoản cho N số tiền 3.000.000 đồng. Sau đó, N chở Nguyễn Thị Tường V là bạn của N đi đến phòng trọ số 02 nhà nghỉ Hoa Đăng, mua của một người phụ nữ (không rõ nhân thân, lai lịch) 03 gói ma túy đá với số tiền 600.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, N đi về nhà của S1 tại ấp TH 1, xã TL, huyện ĐP, tỉnh Bình Phước đưa 03 gói ma ma túy cho S1. Lúc này, S1 lấy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá ra sử dụng. Trong quá trình sử dụng ma túy S1 rủ V, N, Lan A1 sử dụng ma túy đá cùng với S1 thì chỉ có V đồng ý sử dụng cùng S1. S1 dùng hộp quẹt ga khò nóng nỏ thủy tinh cho V sử dụng ma túy. Tại thời điểm S1 cho V sử dụng ma túy đá thì V mới 16 tuổi 02 tháng. Do đó hành vi mua 351,9 gam ma túy loại Heroin về sử dụng của bị cáo Phạm Trường S đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 249; hành vi cung cấp tiền mua ma túy, cung cấp chỗ ở của mình làm nơi sử dụng ma túy, cung cấp dụng cụ sử dụng ma túy, rủ người Nguyễn Thị Tường Vi 16 tuổi 02 tháng sử dụng ma túy cùng mình của bị cáo S1 đã phạm vào tội tổ chức sử dụng ma túy quy định tại điểm c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự; hành vi rủ bị cáo S1 sử dụng ma túy, đi mua ma túy để bị cáo S1 và V sử dụng ma túy của bị cáo Dương Hoàng Yến N đã phạm tội tổ chức sử dụng ma túy với vai trò đồng phạm với bị cáo Dương ThA1 S1. Do đó Cáo trạng số 07/CT-VKSBP-P1 ngày 15/02/2023 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước truy tố đối với các bị cáo Phạm Trường S, Dương ThA1 S1, Dương Hoàng Yến N là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo S1 và N thay đổi lời khai, bị cáo S1 cho rằng bị cáo không cho Nguyễn Thị Tường Vi sử dụng ma túy và bị cáo N không thừa nhận hành vi rủ Vi sử dụng ma túy. Việc các bị cáo thay đổi lời khai nhằm trốn tránh sự trừng trị của pháp luật. Tuy Nên căn cứ vào lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, HĐXX có đủ cơ sở để kết tội các bị cáo như nội dung bản cáo trạng mà Viện Kiểm sát truy tố các bị cáo.
Các bị cáo Phạm Trường S, Dương ThA1 S1, Dương Hoàng Yến N là người đủ năng L chịu trách Nệm hình sự, bản thân các bị cáo nhận thức rõ việc Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi liên quan đến ma túy, song vì nhu cầu của bản thân các bị cáo cố tình thực hiện. Các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Trường S là đặc biệt nghiêm trọng; hành vi phạm tội của các bị cáo Dương ThA1 S1, Dương Hoàng Yến N là rất nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội, là nguyên nhân phát sinh Nều loại tội phạm khác. Do vậy cần phải xử các bị cáo mức án nghiêm tương xứng với tính chất mức độ hành vi mà các bị cáo đã thực hiện, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới có tác dụng cải tạo, giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Đối với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì bị bị cáo S1 và bị cáo N đồng phạm với nhau. Trong đó vai trò của bị cáo S1 là cung cấp tiền để mua ma túy, địa điểm để sử dụng ma túy, dụng cụ để sử dụng, rủ người dưới 18 cùng sử dụng ma túy, bị cáo N là người trực tiếp mua ma túy về cho S1, V sử dụng, rủ S1, Vi sử dụng ma túy. Xét thấy vai trò của các bị cáo trong vụ án là như nhau. Do đó cần có một mức án tương xứng với hành vi của các bị cáo.
Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
- Các tình tiết tăng nặng: Bị cáo Phạm Trường S có 02 tiền án. Cụ thể ngày 20/8/2013, bị Tòa án nhân dân huyện BGM xử phạt 08 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 12/02/2018; ngày 31/7/2019, bị Tòa án nhân dân huyện ĐP, tỉnh Bình Phước xử phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt ngày 12/10/2021. Do đó lần phạm tội này bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Các bị cáo Dương ThA1 S1, Dương Hoàng Yến N không có tình tiết tăng nặng nhưng bị cáo Dương ThA1 S1 có nhân thân xấu, ngày 28/01/2019, bị TAND thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước xử phạt 05 tháng 04 ngày tù giam về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
- Các tình tiết giảm nhẹ: bị cáo Phạm Trường S trong quá trình điều tra đã thành khẩn khai báo, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, có trình độ văn hóa thấp. Do đó, bị cáo S được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo Dương Hoàng Yến N hiện đang nuôi con nhỏ nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS
Bị cáo Dương ThA1 S1 không có tình tiết giảm nhẹ.
Các vấn đề khác của vụ án:
- Đối với hành vi của S 04 lần S mua ma túy trước ngày 30/3/2022 ở tỉnh Tây Ninh và Thành phố Hồ Chí Minh theo như bị cáo S khai. Do không thu giữ được vật chứng để phục vụ cho việc giám định và không xác định được những người bán ma túy cho S nên không làm việc được với những người này. Do đó không có căn cứ để xử lý.
- Đối với người đàn ông tên Hợi bán ma túy cho Phạm Trường S 05 lần nói trên. Quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch của người này, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh xử lý theo quy định nên HĐXX không xem xét.
- Đối với số tài khoản ngân hàng số 0939171827 đăng ký tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam chi nhánh Đồng Nai, nhận số tiền 83.000.000 đồng do S chuyển khoản đến do Trần Hoàng Phương, sinh ngày 01/01/1982, hộ khẩu thường trú tại ấp Bãi Nhà B, xã Lại S, huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang (Tạm trú tại 49D/20 Hoài ThA1, phường 14, quận 8, Tp. Hồ Chí Minh) là người đứng tên chủ sở hữu. Qua quá trình điều tra xác định được Phương khai có đăng ký tài khoản ngân hàng số 0939171827 để nhận lương qua thẻ Ngân hàng và sử dụng từ năm 2012 đến năm 2019. Sau đó Phương làm mất thẻ Ngân hàng và không sử dụng tài khoản này. Đồng thời Phương khai không quen biết Phạm Trường S và không liên quan đến việc S mua ma túy. Vì vậy không có cơ sở xác định Trần Hoàng Phương là người bán ma túy cho S và không cơ sở để xử lý.
- Đối với người tên Trang và người phụ nữ bán ma túy cho Dương Hoàng Yến N vào ngày 30/3/2022, qua xác minh chưa xác định được nhân thân lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh xử lý theo quy định. Nên HĐXX không xem xét.
- Đối với Nguyễn Văn Sáng, cư trú tại ấp 7, xã Bom Bo, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước là người đứng tên chủ tài khoản ngân hàng mà Dương Hoàng Yến N chuyển tiền vào tài khoản cho S3 để trả tiền mua ma túy. Qua xác minh Nguyễn Văn Sáng không có mặt tại địa phương, đã bỏ nhà đi từ tháng 5/2022, nên Cơ quan điều tra không làm việc được. Vì vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh xử lý theo quy định. Nên HĐXX không xem xét.
- Đối với Nguyễn Thị Tường V có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy cùng Dương ThA1 S1 vào ngày 30/3/2022. Ngày 13/6/2022 Cơ quan CSĐT có Thông báo số 56 gửi UBND xã BN, huyện PR, tỉnh Bình Phước xử lý theo quy định. Nên HĐXX không xem xét.
- Đối với Trần Thị Thùy L1, cư trú tại tổ 8, khu phố Tân Bình, phường Tân Bình, thành phố ĐX, tỉnh Bình Phước. Chỗ ở tại ấp TH 1, xã TL, huyện ĐP, tỉnh Bình Phước là người cho S mượn tiền nhưng L1 không biết S sử dụng để mua ma túy nên không xử lý. Về số tiền cho S mượn, L1 và S tự giải quyết không yêu cầu Tòa án xem xét nên HĐXX không xem xét.
- Đối với Lê Đức Q là người được bị cáo S thuê đi Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng Q không biết việc S đi Thành phố Hồ Chí Minh để mua ma túy, nên không xử lý.
- Đối với khối lượng 10,3067 gam ma túy loại Methamphetamine thu giữ khi khám xét chỗ ở của S1 tại ấp TH 1, xã TL, huyện ĐP và thu giữ tại khu vực phía trong bên phải cửa chuồng gà, quá trình điều tra Cơ quan CSĐT chưa xác định được nguồn gốc số ma túy này là của ai đang tiếp tục xác minh xử lý theo quy định. Nên HĐXX không xem xét.
- Đối với xe mô tô (không rõ biển số) S sử dụng làm phương tiện để đi mua ma túy, S khai mua lại chiếc xe này của 01 đàn ông ở huyện PR, nhưng không làm giấy tờ mua bán vào tháng 10/2021. S sử dụng được khoảng 01 tháng thì bán lại cho 01 người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) ở thị xã Phước Long, nhưng không làm giấy tờ mua bán. Qúa trình điều tra không xác định được người mua chiếc xe này nên không thu giữ được để xử lý.
Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS.
Ngày 14/4/2022, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bình Phước đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 13/QĐ-CSMT trả lại cho ông Bùi Phước Đức, cư trú tại khu phố Tân Bình, phường Tân Bình, thành phố ĐX, tỉnh Bình Phước 01 xe ô tô hiệu TOYOTA VIOS, biển số 93A-157.78, số máy 2NRX452685, Số khung 3F34K5067052. Nên HĐXX không xem xét.
Đối với 01 túi niêm phong có mã số NS1A 062198, bên trong có một túi nylon màu đen chứa một vật thể rắn hình hộp kích thước (15,5x10,5x2,5)cm trên bề mặt có logo hình tròn có chữ “DOUBLE UOGELOBE BRAND”, ở giữa logo có hình hai con sư tử đựng ma tuý hoàn lại sau giám định; 01 hộp quẹt gas, 01 chai nhựa; 01 ống hút bằng nhựa; 01 túi nylon màu trắng có khóa miết kích thước (14,7x 21,4)cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng; 01 túi nylon màu trắng có khóa miết kích thước (03x 04)cm; 01 ống thủy tinh màu trắng trong dài 17cm, một đầu phình to; 01 bì thư bên trong đựng ma túy hoàn lại sau giám định được niêm phong ghi vụ số 2019, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Phước Ninh, Điều tra viên Trần Xuân Tiến và hình dấu tròn màu đỏ của Phân viện KHHS tại Thành phố Hồ Chí Minh là vật chứng trong vụ án, nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại hiệu NOKIA 105 màu đen; 01 điện thoại Iphone 11 màu xA1; 01 điện thoại Iphone 8 Plus màu đen; 01 điện thoại hiệu OPPO là công cụ S và N dùng để liên lạc và chuyển tiền cho các đối tượng bán ma túy, nên tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nước.
Đối với số tiền 1.740.000 đồng (Một triệu bảy trăm bốn mươi nghìn đồng) của S, không liên quan đến vụ án, nên cần trả lại cho S.
Đối với 01 CMND số 285478985 mang tên Phạm Trường S là giấy tờ cá nhân của S, nên trả lại cho S.
Đối với 01 điện thoại hiệu Iphone XS Max; 02 điện thoại hiệu NOKIA màu đen, 01 điện thoại hiệu ITEL màu đen là tài sản của S1 không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho S1.
. Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
. Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo: Phù hợp một phần nhận định của HĐXX nên được chấp nhận một phần.
. Án phí hình:
Án phí hình sự sơ thẩm: các bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội dA1:
Tuyên bố bị cáo Phạm Trường S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; các bị cáo Dương ThA1 S1, Dương Hoàng Yến N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt chính:
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 2 Điều 52, các điều 17, 50, 58, 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phạm Trường S 19 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/3/2022.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 255; các điều 17, 50, 58, 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Dương ThA1 S1 07 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/3/2022.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 255, khoản 2 Điều 51, các điều 17, 50, 58, 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Dương Hoàng Yến N 07 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
3. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu hủy Đối với 01 túi niêm phong có mã số NS1A 062198, bên trong có một túi nylon màu đen chứa một vật thể rắn hình hộp kích thước (15,5x10,5x2,5)cm trên bề mặt có logo hình tròn có chữ “DOUBLE UOGELOBE BRAND”, ở giữa logo có hình hai con sư tử đựng ma tuý hoàn lại sau giám định; 01 hộp quẹt gas, 01 chai nhựa; 01 ống hút bằng nhựa; 01 túi nylon màu trắng có khóa miết kích thước (14,7x 21,4)cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng; 01 túi nylon màu trắng có khóa miết kích thước (03x 04)cm; 01 ống thủy tinh màu trắng trong dài 17cm, một đầu phình to; 01 bì thư bên trong đựng ma túy hoàn lại sau giám định được niêm phong ghi vụ số 2019, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Phước Ninh, Điều tra viên Trần Xuân Tiến và hình dấu tròn màu đỏ của Phân viện KHHS tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Nộp vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại hiệu NOKIA 105 màu đen; 01 điện thoại Iphone 11 màu xA1; 01 điện thoại Iphone 8 Plus màu đen; 01 điện thoại hiệu OPPO.
Trả lại cho bị cáo Phạm Trường S: số tiền 1.740.000 đồng (Một triệu bảy trăm bốn mươi nghìn đồng), 01 CMND số 285478985 mang tên Phạm Trường S.
Trả lại cho Dương ThA1 S1 01 điện thoại hiệu Iphone XS Max; 02 điện thoại hiệu NOKIA màu đen, không có thẻ sim; 01 điện thoại hiệu ITEL màu đen, không có thẻ sim.
4. Về án phí:
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Án phí hình sự sơ thẩm: các bị cáo Phạm Trường S, Dương ThA1 S1, Dương Hoàng Yến N mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
- Án phí dân sự sơ thẩm: Không.
5. Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Toà án ND cấp cao tại TP.HCM; - Viện kiểm sát cấp cao tại TP.HCM; - Viện kiểm sát ND tỉnh Bình Phước; - Trại tạm giam Công an tỉnh Bình Phước; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước; - Phòng PV06; Cơ quan CSĐT; - Cục Thi hành án DS tỉnh Bình Phước; - Bị cáo; - Người bào chữa; - Cổng thông tin điện tử TANDTC; - Lưu Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Bình |