- Tranh chấp gì? án hình sự — "bùi văn hiển - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ khoản 1 điều 321; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẬP TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:16 /2023/HS-ST Ngày 23/5/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẬP- TỈNH PHÚ THỌ
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Ninh Thị H
Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Đức Hải và bà Hà Thị M
-Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Thị H - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lập tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Ng - kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2023/QĐXX-ST ngày 09/5/2023 đối với bị cáo:
Bùi Văn H - sinh ngày 15 tháng 5 năm 1979. Tên gọi khác: Không. Nơi thường trú: Khu 1, xã Xuân Viên, huyện Yên Lập, Phú Thọ. Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 0/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Bố đẻ: Bùi Văn L (đã chết). Mẹ đẻ: Đinh Thị V, sinh năm 1942; có vợ là Hà Thị T, sinh năm 1982 và 02 người con; Tiền án: Không.
Tiền sự: Tại Quyết định xử phạt hành chính số 10/QĐ-XPHC ngày 22/02/2023 của Công an huyện Yên Lập, xử phạt Bùi Văn H 1.500.000đồng về hành vi đánh bạc, Hiển chấp hành nộp phạt ngày 16/3/2023.
Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Xuân Viên, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
* Người bào chữa cho bị cáo Bùi văn Hiển: Bà Phạm Thị Th- Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Phú Thọ (có mặt).
* Người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Đinh Ngọc L, sinh năm: 1982. Trú tại: khu 8, xã Xuân Viên, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
2. Thân Văn M, sinh năm: 1981. Trú tại: khu 9, xã Xuân Thủy, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ(có mặt).
3. Đinh Văn X, sinh năm: 1987. Trú tại: khu 9, xã Xuân Thủy, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 27/02/2023, Bùi Văn H - sinh năm 1979 ở khu 1, xã Xuân Viên, huyện Yên Lập; Đinh Ngọc L - sinh năm 1982 ở khu 8, xã Xuân Viên, huyện Yên Lập; Thân Văn M - sinh năm 1981; Đinh Văn X - sinh năm 1987 đều ở khu 9, xã Xuân Thủy, huyện Yên Lập cùng rủ nhau đến căn nhà bỏ hoang của ông Đinh Văn Ng tại khu 9, xã Xuân Thủy, huyện Yên Lập (Căn nhà này trước đây ông Nguyên sống một mình, đến năm 2020 ông Nguyên chết nên căn nhà bỏ hoang, không có ai ở) để đánh bạc dưới hình thức đánh “Liêng” được thua bằng tiền. Khi đi M mang sẵn theo 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân, tới nơi thì tất cả cùng ngồi xuống chiếc chiếu bằng tre đã trải sẵn trên giường trong nhà để đánh bạc.
Khi bắt đầu đánh bạc, X là người cầm cái chia bài. X chia cho mỗi người 03 quân bài, mỗi ván đặt tiền cược để chơi trước khi lên bài thấp nhất là 10.000đ sau đó mới lên bài. Các đối tượng quy ước quân bài Át (A) tính điểm bằng 1, quân bài J, Q, K tính điểm bằng 10, người chơi lần lượt theo vòng có thể đặt cược thêm tiền (gọi là tố thêm), người tố sau có thể đặt tiền tố cao hơn người tố trước, người nào không theo thì úp bỏ bài và bị thua số tiền đã đặt cược, những người còn lại tiếp tục tố thêm tiền (khi tất cả người chơi cùng nhau tố thì chỉ được tố tối đa không quá 30.000đ) nếu không có ai tố theo thì người tố cuối cùng (tố cao nhất) sẽ thắng. Nếu không ai tố thêm nữa hoặc cùng theo tố thì tất cả người chơi lật bài để so bài với nhau, bài cộng điểm thì ai có điểm số cao nhất sẽ thắng (thấp nhất là 0 điểm, cao nhất là 9 điểm), nếu cộng điểm 03 quân bài ra số có hai chữ số thì sẽ lấy số hàng đơn vị làm điểm số còn nếu cộng ra số điểm chẵn chục sẽ là 0 điểm. Người chơi có bài liêng (có 03 quân bài có giá trị liên tiếp nhau) sẽ thắng so với bài điểm cao nhất (bộ bài liêng có giá trị lớn nhất là QKA và có giá trị nhỏ nhất là A23). Người thắng sẽ được toàn bộ số tiền cược dưới chiếu, là người cầm cái (chia bài) và được tố đầu tiên.
Các đối tượng đánh bạc đến 16 giờ 15 phút cùng ngày thì bị Công an xã Xuân Thủy kiểm tra phát hiện, lập biên bản vi phạm hành chính, thu giữ trên chiếu bạc vật chứng gồm: Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là 1.060.000đồng; 01 chiếc chiếu bằng tre màu nâu vàng và 52 quân bài tú lơ khơ, sau đó chuyển Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Lập giải quyết theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra các đối tượng khai nhận rõ hành vi đánh bạc như đã nêu và xác định số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc như sau: Bùi Văn H có số tiền 310.000đ; Thân Văn M có số tiền 300.000đ; Đinh Ngọc L có số tiền 200.000đ; Đinh Văn X có số tiền 250.000đ. Tổng số tiền các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc là 1.060.000 đồng. Lời khai của các đối tượng phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng và các tài liệu khác đã thu thập được.
Mặc dù số tiền sử dụng vào việc đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, nhưng Bùi Văn H đang có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc. Tại Quyết định xử phạt hành chính số 10/QĐ-XPHC ngày 22/02/2023 của Công an huyện Yên Lập xử phạt Bùi Văn H 1.500.000đ về hành vi đánh bạc (nộp phạt ngày 16/3/2023). Ngày 27/02/2023, H tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc, vì vậy hành vi đánh bạc lần này của H đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự.
Đối với Đinh Văn X, Đinh Ngọc L và Thân Văn M có tham gia đánh bạc với số tiền dưới 5.000.000 đồng, trị giá không lớn và nhân thân đều chưa có tiền án, tiền sự nên cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ đến Công an huyện Yên Lập để xử lý vi phạm hành chính đối với X, L, M là phù hợp.
Cáo trạng số 17/CT-VKS-YL ngày 20/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Bùi Văn H về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử :
+ Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn H phạm tội Đánh bạc.
Áp dụng khoản 1 điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 BLHS
Phạt Bùi Văn H từ 09 đến 12 tháng tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Yên Lập nhận được quyết định thi hành án.
Khấu trừ thu nhập: 5%/ tháng x 2.000.000đồng/ tháng = 100.000đồng/ tháng đối với bị cáo Bùi Văn H
Buộc bị cáo H phải chấp hành lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian chấp hành án, nếu bị mất việc làm hoặc không có việc làm. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 5 ngày trong một tuần.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Bùi Văn H
+ Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền: 1.060.000đồng.
- Tịch thu tiêu hủy: 52 quân bài tú lơ khơ và 01 chiếc mành màu vàng.
+ Về án phí: Miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Bùi Văn H vì bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khăn.
* Người bào chữa cho bị cáo Bùi Văn H trình bày quan điểm bào chữa: Nhất trí với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như Kiểm sát viên đã đề nghị. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khăn thuộc đối tượng trợ giúp miễn phí của nhà nước, đề nghị HĐXX xem xét áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 51 BLHS cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo có cơ hội cải tạo trở thành người có ích cho xã hội.
Lời nói sau cùng: Bị cáo Bùi Văn H xin giảm nhẹ hình phạt để sửa chữa lỗi lầm, làm công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Lập, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lập, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung: Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo:
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình là có cùng tham gia đánh bạc với Đinh Văn X, Đinh Ngọc L và Thân Văn M, được thua bằng tiền dưới hình thức đánh “Liêng”, thời gian vào khoảng khoảng 14 giờ 00 phút đến 16 giờ 15 phút ngày 27/02/2023, tại nhà bỏ hoang của ông Đinh Văn Ng tại khu 9, xã Xuân Thủy, huyện Yên Lập. Tổng số tiền bị cáo và những người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án dùng vào việc đánh bạc là 1.060.000 đồng (trong đó Bùi Văn H có 310.000đ), dưới 5.000.000đồng nhưng H đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc mà còn vi phạm nên hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội phạm như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời trình bày của những người liên quan đến vụ án, phù hợp với thời gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án và các tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Vậy có đủ căn cứ pháp lý để kết luận bị cáo Bùi Văn H phạm tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lập đã truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội.
Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự quy định:“Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
+ Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thấy rằng:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện với lỗi cố ý, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, an toàn xã hội, gây hoang mang, bất bình trong quần chúng nhân dân, đánh bạc là tệ nạn xã hội thường dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng khác, bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, điều kiện để nhận thức và đạt độ tuổi theo quy định pháp luật, hiểu biết xã hội nhưng không rèn luyện bản thân, mà coi thường pháp luật, vì vậy cần phải xử lý bị cáo trước pháp luật nhằm để giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
Bản thân bị cáo H chưa có tiền án nhưng có 01 tiền sự, bị xử phạt hành chính về hành vi cùng loại, tuy nhiên bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS và bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khăn thuộc đối tượng trợ giúp miễn phí của nhà nước, được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 51 BLHS. Xét thấy chưa cần cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cho cải tạo tại địa phương cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt.
Về hình phạt bổ sung: Khoản 3 điều 321 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.
Xét thấy bị cáo Bùi Văn H không có tài sản riêng, thu nhập thấp nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Trong thời gian chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ cần buộc bị cáo Bùi Văn Hiển phải thực hiện một số nghĩa vụ về cải tạo không giam giữ và khấu trừ một phần thu nhập của bị cáo là 5% để sung vào ngân sách nhà nước.
Về vật chứng của vụ án: Xét thấy các vật chứng gồm: 52 quân bài tú lơ khơ, 01 chiếc mành màu vàng và số tiền: 1.060.000đồng. Đây là vật, tiền bị cáo và những người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã dùng vào việc thực hiện tội phạm (làm công cụ phạm tội), những vật đã cũ và không còn giá trị sử dụng thì cần tịch thu tiêu hủy, còn tiền thì tịch thu để sung ngân sách nhà nước.
Về án phí: Bị cáo Bùi Văn H là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng đặc biệt khó khăn nên miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định.
Đề nghị của Kiểm sát viên, Người bào chữa cho bị cáo là có căn cứ và phù hợp pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
[1] Căn cứ khoản 1 điều 321; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Bùi Văn H phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt Bùi Văn H 09 (Chín) tháng tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Yên Lập nhận được quyết định thi hành án.
Giao Bùi Văn H cho Ủy ban nhân dân xã Xuân Viên, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo H có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian chấp hành án, khấu trừ một phần thu nhập của bị cáo Bùi Văn H là 05% trên tổng thu nhập 2.000.000đồng, bằng số tiền là 100.000đồng)/ tháng, để sung vào ngân sách nhà nước. Việc khấu trừ được thực hiện hàng tháng cho đến khi chấp hành xong hình phạt.
Buộc bị cáo H phải chấp hành lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian chấp hành án, nếu bị mất việc làm hoặc không có việc làm. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 5 ngày trong một tuần.
Trong thời gian chấp hành hình phạt, bị cáo phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.
[2] Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền: 1.060.000đồng.
- Tịch thu tiêu hủy: 52 quân bài tú lơ khơ, 01 chiếc mành màu vàng
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ ngày 24/4/2023).
[3] Về án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1 điều 21, điểm d khoản 1 Điều 12, điều 14, điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Bùi Văn H.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Yên Lập; - VKSND tỉnh Phú Thọ; - Bị cáo; người liên quan; - CQCSĐT CA huyện Yên Lập; - CQTHA hình sự; - Chi cục THADS huyện Yên Lập; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VP./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ninh Thị Hồng |