- Tranh chấp gì? án hình sự — "PHươNG VĂN N TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP MA TÚY - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phương Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN QUAN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2023/HS-ST Ngày: 28-4-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN QUAN, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Bá Hiệp.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vy Thiện Hào
Bà Đỗ Thị Gấm
- Thư ký phiên tòa: Bà Lục Quỳnh Trâm – Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nông Văn Hiển - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 15/2023/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:
PHƯƠNG VĂN N. Tên gọi khác: Không, sinh ngày 17 tháng 02 năm 1989. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đinh Mạnh T (đã chết); con bà: Phương Thị H, sinh năm 1966; vợ: Đặng Thị T, sinh năm 1989; con: Có 01 con sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Chưa có; nhân thân: Ngày 24/6/2009 bị Tòa án nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn tuyên phạt 09 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 15/5/2010 bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù, ngày 07/7/2020 thi hành xong tiền án phí và bồi thường thiệt hại. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/03/2023, tạm giam từ ngày 07/03/2023 tại Nhà tạm giữ, Công an huyện Văn Quan đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 06 giờ 15 phút ngày 05/3/2023 tổ công tác Công an xã Tân Đoàn, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn phối phối hợp với Công an huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn nhận được tin báo của của quần chúng nhân dân cung cấp đối tượng Phương Văn N (sinh năm 1989), trú tại Thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác đến nhà Phương Văn N để kiểm tra thì phát hiện tại túi áo khoác bên trái Phương Văn N đang mặc có 01 ví da màu nâu, bên trong ví có 01 gói nilon màu đỏ bên trong có 01 gói nilon màu đỏ có chứa chất bột màu trắng, Phương Văn N khai nhận đó là ma túy Heroin của Phương Văn N, Phương Văn N mua của một người phụ nữ không quen biết ở khu vực Bệnh viên đa khoa cũ tại thành phố L, với giá là 500.000 đồng, mục đích để sử dụng.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Phương Văn N nhưng không thu giữ được đồ vật, tài liệu có liên quan.
Tại Bản kết luận giám định số 322/KL-KTHS, ngày 07/3/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất bột màu trắng (thu giữ của Phương Văn N) là chất ma túy Heroin, có tổng khối lượng là 0,638 gam, đã trừ bì.
Tại Cơ quan điều tra, Phương Văn N khai nhận: Bản thân sử dụng ma túy từ năm 2018. Khoảng 09 giờ ngày 04/3/2023 Phương Văn N bắt xe khách từ nhà ở Thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn đi đến khu vực cổng Bệnh viện đa khoa cũ thuộc phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn gặp một người phụ nữ không quen biết, khoảng 30 tuổi, Phương Văn N hỏi người phụ nữ này “có ma túy bán không”, thì được trả lời là “có”. Sau đó Phương Văn N đưa cho người phụ nữ 500.000 đồng, người phụ nữ cầm tiền đi khoảng 15 phút thì quay lại đưa cho Phương Văn N 01 gói nilon màu đỏ bên trong có chứa chất ma túy Heroin, Nguyễn cho gói ma túy vào ví da màu nâu cất tại túi áo khoác bên trái rồi bắt xe khách đi về nhà. Khi về đến nhà Phương Văn N lấy gói ma túy ra sử dụng được 04 lần, số ma túy còn lại Phương Văn N tiếp tục cất trong ví da màu nâu để tại túi áo khoác bên trái của Phương Văn N. Đến hồi 06 giờ 15 phút ngày 05/3/2023 khi Phương Văn N đang mặc áo khoác có cất giấu ma túy thì bị bị lực lượng chức năng kiểm tra, bắt giữ Phương Văn N cùng tang vật.
Vật chứng của vụ án chưa xử lý: 01 phong bì thư đã niêm phong, bên trong có 01 gói giấy chứa 0,578 gam Heroin (còn lại sau giám định) và vỏ bao gói; 01 ví da màu nâu đã qua sử dụng; 01 mảnh giấy hình vuông kích cỡ 1,5cm; 01 mảnh giấy hình vuông kích cỡ 03cm
Với hành vi như trên tại bản Cáo trạng số 15/CT-VKSVQ, ngày 11/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Phương Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự, tuyên bị cáo Phương Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư đã niêm phong, bên trong có 01 gói giấy chứa 0,578 gam Heroine (còn lại sau giám định) và vỏ bao gói; 01 ví da màu nâu đã qua sử dụng; 01 mảnh giấy hình vuông kích cỡ 1,5cm; 01 mảnh giấy hình vuông kích cỡ 03cm; 01 mảnh giấy bạc hình chữ nhật kích cỡ 05cm x 06cm. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Tại phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì và tại lời nói sau cùng chỉ xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không khiếu nại quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Phương Văn N đều khai nhận về hành vi phạm tội của bản thân như bản Cáo trạng đã truy tố là đúng người, đúng tội, cụ thể: Hồi 06 giờ 15 phút ngày 05/3/2023 tại nhà của Phương Văn N tại Thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn bị cáo đã bị bắt quả tang khi đang có hành vi tàng trữ 01 gói nilon màu đỏ bên trong có 01 gói nilon màu đỏ có chứa chất bột màu trắng, theo kết luận giám định là chất ma túy Heroin, có tổng khối lượng là 0,638 gam, đã trừ bì. Theo lời khai của bị cáo thì bị cáo mua về để sử dụng cho bản thân vì bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, kết quả điều tra cũng không chứng minh được bị cáo có hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an trên địa bàn, vi phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy. Hơn nữa ma túy là chất gây nghiện cao, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, nòi giống con người, gây thiệt hại về kinh tế và còn là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác trong xã hội. Do đó, đối với bị cáo cần phải có mức án nghiêm khắc mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về nhân thân: Ngoài lần phạm tội này, năm 2009 bị cáo đã từng bị xét xử về hành vi trộm cắp tài sản đã được xóa án tích, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy nên bị cáo có nhân thân xấu.
Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích ở trên thấy rằng khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đủ khả năng nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng do không chịu tu dưỡng bản thân dẫn đến nghiện ma túy và phạm tội. Do đó, cần phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa mới đảm bảo việc răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo kết quả xác minh của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Quan tại địa phương thì bị cáo là đối tượng nghiện ma túy không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo vì không đảm bảo thi hành án.
Vật chứng của vụ án là 01 phong bì thư đã niêm phong, bên trong có 01 gói giấy chứa 0,578 gam Heroine (còn lại sau giám định) và vỏ bao gói; 01 ví da màu nâu đã qua sử dụng; 01 mảnh giấy hình vuông kích cỡ 1,5cm; 01 mảnh giấy hình vuông kích cỡ 03cm; 01 mảnh giấy bạc hình chữ nhật kích cỡ 05cm x 06cm là chất Nhà nước cấm lưu hành và đều sử dụng vào việc phạm tội nhưng không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho bị cáo do không có đủ thông tin nên không thể điều tra xác minh để xử lý.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án;
V× c¸c lÏ trªn,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự;
Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phương Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phương Văn N 01 năm 06 tháng tù (Một năm, sáu tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày 05/3/2023.
3. Xử lý vật chứng
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư đã niêm phong, bên trong có 01 gói giấy chứa 0,578 gam Heroine (còn lại sau giám định) và vỏ bao gói; 01 ví da màu nâu đã qua sử dụng; 01 mảnh giấy hình vuông kích cỡ 1,5cm; 01 mảnh giấy hình vuông kích cỡ 03cm; 01 mảnh giấy bạc hình chữ nhật kích cỡ 05cm x 06cm.
(Các vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Lạng Sơn theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/4/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Lạng Sơn).
4. Án phí: Bị cáo Phương Văn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - Sở tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Văn Quan; - Công an huyện Văn Quan; - CCTHADS huyện V; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. Hội thẩm nhân dân | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nông Bá Hiệp Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |