vanban.org

Bản án 16/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai Tuyên án 14/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 0,52 gam Heroine cùng toàn bộ niêm phong cũ đựng trong 01 (một) bì niêm phong còn nguyên vẹn. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/3/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Bàn … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Thị T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TAND HUYỆN VĂN BÀN
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2023/HS-ST
Ngày 14/4/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI.

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Triệu Vĩnh Thái.

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Duy Bình.

2. Ông Hoàng Văn Thứ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Long - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 4 năm 2023 , tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 14/2023/TLST-HS ngày 21/3/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2023 /QĐXXST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2023đối với:

Bị cáo: Hoàng Thị T , sinh ngày 06 tháng 7 năm 1986 tại huyện V, tỉnh L; Nơi cư trú: thôn M, xã M, huyện V, tỉnh L; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: Lớp 05/12; tiền sự: Không; Tiền án: Không; nhân thân: Tốt; Con ông Hoàng Văn T, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1961; bị cáo có Chồng là Triệu Văn H, sinh năm 1986 và có 02 con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2008.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06 tháng 02 năm 2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Văn Bàn - Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lương Thị C, trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh L - Có mặt tại phiên tòa.

- Người chứng kiến: Anh Lương Văn T, sinh năm 1977. Địa chỉ: Thôn M, xã M, huyện V, tỉnh L - Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 12 giờ 30 phút ngày 06 tháng 02 năm 2023, Công an xã M đã tiến hành kiểm tra nhà của Hoàng Thị T ở thôn M, xã M, huyện V, tỉnh L. Khi công an tiến hành kiểm tra, T đã lấy lọ nhựa đựng ma túy ở trong túi quần bên phải đang mặc ném xuống vườn cách chỗ T đang đứng 6,2 mét. Khi được Công an xã yêu cầu nếu có đồ vật, tài liệu gì liên quan đến hành vi phạm tội về ma túy thì T giác giao nộp thì T đã tự giác xuống vườn nhặt 01 lọ nhựa màu trắng có nắp, bên trong có 08 gói nilon màu xanh và 11 gói nilon màu hồng, bên trong các gói nilon đều chứa chất bột khô, màu trắng, vón cục giao nộp cho Công an. T khai nhận đây là ma túy của T mua về tàng trữ với mục đích để trả công cho người nghiện ma tuý để họ làm ruộng thuê cho T nhưng chưa thuê được ai thì bị bắt. Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang với Hoàng Thị T thu giữ và niêm phong vật chứng nghi là ma túy theo quy định. Tiến hành khám xét khẩn cấp trên người và chỗ ở của Hoàng Thị T nhưng không thu giữ vật chứng gì.

Về nguồn gốc số ma túy Hoàng Thị T khai nhận mua được của một người đàn ông không quen biết vào khoảng 11 giờ ngày 05 tháng 02 năm 2023 với giá 500.000 đồng tại khu vực rừng ở thôn M, xã M. Sau đó mang về nhà cất giấu trong người và chưa chia tách, pha trộn hoặc cho ai sử dụng.

Tại bản kết luận giám định số 48/KL-GĐMT ngày 10 tháng 02 năm 2023 của Phòng KTHS Công an tỉnh Lào Cai, kết luận: Tổng số chất bột khô màu trắng, vón cục thu giữ của Hoàng Thị T có khối lượng 0,57 gam là chất ma túy Heroine.

Bản cáo trạng số: 16/CT-VKS ngày 21 tháng 3 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai đã truy tố bị cáo Hoàng Thị T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Hoàng Thị T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án tóm tắt nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn trình bày quan điểm luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố tại bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Hoàng Thị T từ 02 năm 03 tháng tù đến 02 năm 09 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung. Xử lý vật chứng, tuyên án phí theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày quan điểm bào chữa: Nhất trí với tội danh và điều luật Viện kiểm sát đã đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù. Không phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Bị cáo nhất trí với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát. Khi nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về Tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Hoàng Thị T tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của bị cáo, người chứng kiến trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Ngày 06 tháng 02 năm 2023 bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,57 gam Heroine với mục đích trả công cho người nghiện ma tuý để họ làm thuê cho gia đình. Vì vậy, Bản cáo trạng số 16 /CT-VKS ngày 21 tháng 3 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai đã truy tố bị cáo Hoàng Thị T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về hình phạt:

Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Bị cáo Hoàng Thị T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý được pháp luật bảo vệ. Hành vi đó gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo nghiêm minh trước pháp luật để giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, để giảm nhẹ một phần hình phạt thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Sau khi cân nhắc các căn cứ quyết định hình phạt đã phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ dài để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

Người bào chữa đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù là nhẹ, không tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên không được chấp nhận.

[4 ]Về hình phạt bổ sung:

Xét thấy gia đình bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo, bị cáo không có tài sản riêng gì có giá trị. Vì vậy, Hội đồng xét xử không phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.

[5] Về xử lý vật chứng:

Đối với 0,52 gam Heroine còn lại sau trích mẫu giám định được niêm phong. Đây là vật nhà nước cấm lưu hành nên bị tịch thu tiêu hủy là đúng pháp luật.

[6] Về tình tiết khác: Đối với người đàn ông bị cáo T khai đã bán ma tuý cho mình vào ngày 05 tháng 02 năm 2023, quá trình điều tra không xác định được lý lịch, địa chỉ nên không có căn cứ đề cập xử lý trong vụ án.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Hoàng Thị T 02 (hai) năm 05 (năm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 06 tháng 02 năm 2023.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 0,52 gam Heroine cùng toàn bộ niêm phong cũ đựng trong 01 (một) bì niêm phong còn nguyên vẹn.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/3/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Bàn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Bàn).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: Bị cáo Hoàng Thị T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6, điều 7, điều 7a, 7b và điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ