vanban.org

Bản án 16/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái Tuyên án 20/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đào Đức H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Về hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đào Đức H 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 16-02-2023. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Đức H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đào Đức H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
Hiê
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẤN YÊN, TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2023/HS-ST
Ngày: 20-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẤN YÊN - TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Hồng Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Nguyễn Đức Khâm

- Bà Nguyễn Thị Hằng

Thư ký phiên toà: Bà Đào Thu Thuỷ – Thư ký Toà án nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái tham gia phiên toà: Ông Hà Đình Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2023/TLST-HS ngày 23-5-2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2023/QĐXXST-HS ngày 07-6-2023 đối với bị cáo:

Đào Đức H (tên gọi khác: không)

Sinh ngày 09 tháng 5 năm 1995 tại Yên Bái

Nơi cư trú: Thôn BC, xã HC, huyện TY, tỉnh Yên Bái.

Nghề nghiệp: Không

Trình độ văn hoá: 6/12

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Không

Quốc tịch: Việt Nam

Con ông: Đào Đức T

Và bà: Nguyễn Thị H1

Vợ: Lò Thị N và 01 con sinh năm 2016

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16-02-2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Yên Bái –có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đào Đức H là đối tượng nghiện ma túy, để có ma túy sử dụng thỏa mãn nhu cầu của bản thân khoảng 14h ngày 16-02-2023, Đào Đức H một mình đi từ nhà lên thôn Hồng Lâu, xã Hồng Ca, huyện Trấn Yên để tìm mua ma tuý. Khi đến khu vực đỉnh dốc Hồng Lâu, Đào Đức H gặp một người đàn ông dân tộc Mông khoảng 30 tuổi, Đào Đức H không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này. Đào Đức H hỏi mua ma tuý, người đó đồng ý và bán cho Đào Đức H 02 gói ma tuý với giá 200.000 đồng, sau khi mua được ma tuý Đào Đức H mang đến một ngôi nhà hoang gần đó và đi ra sau nhà để sử dụng thì bị tổ công tác của đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự-kinh tế-ma tuý Công an huyện Trấn Yên phát hiện, bắt quả tang. Ngoài ra, Đào Đức H còn khai nhận ngày 15-02-2023 cũng tại địa điểm nêu trên Đào Đức H cũng mua 01 gói ma tuý của người đàn ông này và đã sử dụng hết cho bản thân. Do chỉ có lời khai của Đào Đức H nên cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xử lý về lần vi phạm này.

Thu giữ của Đào Đức H 02 gói nilon màu trắng hàn túm một đầu, bên trong có chất bột màu trắng nghi là heroine (có tổng khối lượng là 0,2 gam); 01 điện thoại di động nhãn hiệu MEIZU màu đen, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng (màn hình đã bị vỡ).

Tại bản cáo trạng số 15/CT-VKSTY ngày 23-5-2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái truy tố bị cáo Đào Đức H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đào Đức H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đào Đức H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 16-02-2023.

- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện chất ma túy, không có tài sản, không có thu nhập nên không cần thiết phải áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên BÁi phát hành (chứa 0,12 gam ma tuý loại heroine sau khi trích mẫu giám định); 02 mảnh nilon màu trắng.

- Trả lại cho bị cáo Đào Đức H 01 điện thoại di động nhãn hiệu MEIZU màu đen, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng.

Về án phí và quyền kháng cáo: Theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà, bị cáo khai báo thành khẩn, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như đã nêu trên. Bị cáo nhất trí với lời luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận gì.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trấn Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trấn Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà bị cáo thừa nhận đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý; lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã đủ cơ sở kết luận: Ngày 16-02-2023 Đào Đức H đã có hành vi tàng trữ 0,2 gam ma tuý, loại heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo Đào Đức H đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà Nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Ma túy là chất gây nghiện và là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội, là nguyên nhân lây truyền căn bệnh HIV, AIDS. Với mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, cũng như nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và mang tính răn đe, phòng ngừa chung.

Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo nghiện chất ma túy, không có tài sản, không có thu nhập nên không cần thiết phải áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với người đàn ông đã bán ma tuý cho Đào Đức H, do Đào Đức H không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra xác minh nhưng không xác định được nhân thân lai lịch cụ thể nên không đủ căn cứ để điều tra xử lý trong vụ án này.

Về vật chứng:

+ Đối với 0,08 gam ma tuý loại heroine trích từ 0,2 gam ma tuý loại heroine thu giữ khi bắt qủa tang Đào Đức H cơ quan điều tra đã sử dụng vào việc giám định, không hoàn lại mẫu vật nên Hội đồng xét xử không xét.

+ Đối với 0,12 gam ma tuý loại heroine mặt trước phong bì có ghi “Vật chứng thu giữ của Đào Đức H tại thôn Hồng Lâu, xã Hồng Ca, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái (sau khi trích mẫu giám định), mặt sau phong bì các mép được dán kín, có họ tên chữ ký của Phạm Minh Tuấn, Nguyễn Đức Phượng, Lộc Văn Mạnh, Nguyễn Xuân Thủy, Đào Đức H và 04 hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái; 02 mảnh nilon màu trắng xét thấy có liên quan đến tội phạm cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu MEIZU màu đen, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng có số IMEI1: 863458044873038, số IMEI2: 863458044873046 (màn hình điện thoại đã bị vỡ), xét thấy không liên quan đến tội phạm cần trả lại cho bị cáo là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đào Đức H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Về hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đào Đức H 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 16-02-2023.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu huỷ:

+ 0,12 gam ma tuý loại heroine mặt trước phong bì có ghi “Vật chứng thu giữ của Đào Đức H tại thôn Hồng Lâu, xã Hồng Ca, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái (sau khi trích mẫu giám định), mặt sau phong bì các mép được dán kín, có họ tên chữ ký của Phạm Minh Tuấn, Nguyễn Đức Phượng, Lộc Văn Mạnh, Nguyễn Xuân Thủy, Đào Đức H và 04 hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái;

+ 02 mảnh nilon màu trắng.

- Trả lại cho bị cáo Đào Đức H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu MEIZU màu đen, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng có số IMEI1: 863458044873038, số IMEI2: 863458044873046 (màn hình điện thoại đã bị vỡ).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/QH14 quy định về án phí, lệ phí Toà án bị cáo Đào Đức H phải chịu 200.000đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ