- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Xuân V phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Xuân V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2023/HS-ST Ngày: 30-5-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P - TỈNH HƯNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Mạnh Quyền;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Dũng và ông Bùi Đăng Ban;
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Huyền, Thư ký Tòa án nhân dân huyện P;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Anh Tuấn, Kiểm sát V.
Ngày 30 tháng 5 năm 2023 tại nhà văn hóa xã Đ, huyện P, tỉnh Hưng Yên; Tòa án nhân dân huyện P xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 14/2023/TLST-HS ngày 26/4/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2023 đối với:
Bị cáo Lê Xuân V, sinh năm 1982; quê quán: xã T, huyện P, tỉnh Hưng Yên; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện P, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn V, sinh năm 1959 và con bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1961; vợ: Trần Thị V, sinh năm 1987; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Chưa; tạm giữ, tạm giam: bị tạm giữ từ ngày 10/3/2023 đến 16/3/2023 chuyển tạm giam cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người chứng kiến: Anh Bùi Hữu H, sinh năm 1975; “vắng mặt”
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện P, tỉnh Hưng Yên
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 14 giờ 50 phút, ngày 10/3/2023, Tổ công tác Công an huyện P cùng Công an xã Đ, huyện P, tỉnh Hưng Yên tuần tra tại khu vực Ngã 5 Đ thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện P, tỉnh Hưng Yên phát hiện 01 nam thanh niên đang đi bộ trên đường có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác tiến hành kiểm tra, đối tượng khai tên là Lê Xuân V, sinh năm 1982, trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện P, tỉnh Hưng Yên. Quá trình kiểm tra, V tự nguyện giao nộp từ lòng bàn tay trái của V 01 gói giấy bạc, kích thước (1,5x2)cm, bên trong chứa chất dạng bột và cục màu trắng (được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M1). V khai nhận chất trong gói giấy bạc nêu trên là ma túy, loại heroine, V mang theo nhằm mục đích để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong, thu giữ vật chứng.
Tại Bản kết luận giám định số 166/KL-KTHS(MT) ngày 13 tháng 3 năm 2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ký hiệu M1, có khối lượng là 0,263 gam, là ma túy, loại Heroine. Mẫu hoàn lại được niêm phong trong bì thư số 166/KL-KTHS(MT) chứa 0,256 gam ma túy, loại heroine; 01 mảnh giấy bạc gói ma túy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.
Tại Cơ quan điều tra, Lê Xuân V khai nhận: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 10/3/2023, V đi bộ từ nhà ở của mình tại thôn Đ, xã Đ, huyện P, tỉnh Hưng Yên đến đoạn đường thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện P, tỉnh Hưng Yên thì gặp một người đàn ông lạ mặt đứng ở rìa đường, V không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này. V đi đến vị trí người này hỏi mua ma túy loại heroine với giá 200.000 đồng thì người này đồng ý bán. V đưa cho người đàn ông trên số tiền 200.000 đồng thì được người này đưa cho 01 gói giấy bạc chứa ma túy. Sau đó, V cầm gói giấy bạc chứa ma túy vừa mua được trong lòng bàn tay trái của mình đi tìm nơi vắng vẻ để sử dụng thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện.
Về đối tượng bán ma túy cho V, do V không biết tên, tuổi, địa chỉ, đặc điểm cụ thể của người bán ma túy cho V; Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh với Công an xã Đ nhưng không có đối tượng nào như bị cáo V đã trình bày nên không đủ căn cứ để xử lý.
Tại cơ quan điều tra, bị cáo Lê Xuân V đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, tỏ ra ăn năn hối cải.
Bản cáo trạng số 15/CT-VKSPC ngày 25/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Lê Xuân V về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo V thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lê Xuân V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đề nghị áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326 của UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án . Xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/3/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy 0,256 gam ma túy còn lại sau giám định; 01 mảnh giấy bạc gói ma túy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Lê Xuân V nhất trí với quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, không có ý kiến tranh luận gì.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Tôi nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra V, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát V trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp khách quan với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp các vật chứng thu giữ và Kết luận giám định. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 14 giờ 50 phút ngày 10/3/2023 tại thôn Đ, xã Đ, huyện P, tỉnh Hưng Yên; bị cáo Lê Xuân V có hành vi cất giấu 0,263 gam ma túy, loại Heroine, bị cáo V khai nhận hành vi cất giấu ma túy nhằm mục đích để sử dụng. Như vậy, hành vi của bị cáo V đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện P truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý; gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, góp phần gia tăng tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Heroine là loại ma túy mạnh gây lệ thuộc cơ thể cũng như lệ thuộc tâm thần, gây nhiễm độc cấp và mãn tính. Tác hại của ma túy ảnh hưởng đến sức khỏe, công việc, kinh tế, gia đình và xã hội. Tệ nạn ma tuý ở địa bàn huyện vẫn đang diễn biến hết sức phức tạp và có xu hướng gia tăng. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ tác hại của việc sử dụng trái phép chất ma túy, đặc biệt là heroine nhưng bị cáo vẫn cố tình vi phạm pháp luật, do đó cần phải xét xử và áp dụng một hình phạt nghiêm khắc để đáp ứng yêu cầu đấu tranh và phòng chống tội phạm.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng vì vậy cần thiết cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình, xã hội và là người biết tuân thủ pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy, thu nhập không ổn định và không tài sản riêng, vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Các biện pháp tư pháp:
- Về vật chứng: Mẫu hoàn lại được niêm phong trong bì thư số 166/KL-KTHS(MT) chứa 0,256 gam ma túy, loại heroine là chất nhà nước cấm lưu hành; 01 mảnh giấy bạc gói ma túy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định không còn giá trị sử dụng nên sẽ bị tịch thu cho tiêu hủy.
Đối với đối tượng (người đàn ông) đã bán ma túy cho bị cáo V, Cơ quan điều tra tiếp tục tiến hành xác minh để giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điều 106, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với Lê Xuân V.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Xuân V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Lê Xuân V 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 10/3/2023.
Về các biện pháp tư pháp: Tịch thu cho tiêu hủy mẫu hoàn lại được niêm phong trong bì thư số 166/KL-KTHS(MT) chứa: 0,256 gam ma túy, loại heroine là chất nhà nước cấm lưu hành; 01 mảnh giấy bạc gói ma túy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định
(Tình trạng, đặc điểm các vật chứng được mô tả cụ thể theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/5/2023 giữa Công an huyện và Chi cục Thi hành án dân sự huyện).
Về án phí: Buộc bị cáo Lê Xuân V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên; - TAND tỉnh Hưng Yên; - VKSND huyện P; - VKSND tỉnh Hưng Yên; - CQĐT & VP CA huyện P; - Cơ quan Thi hành án Hình sự & Dân sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Mạnh Quyền |