- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị G phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ LỘC TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2023/HS-ST Ngày 02-6- 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ LỘC, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quang.
Các hội thẩm nhân dân:
Bà Hà Thị Cúc;
Ông Nguyễn Văn Thắng.
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Công Thương – Thư ký Toà án nhân dân huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2023/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2023/QĐXXST- HS ngày 19 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị G, sinh năm 1950 tại huyện L, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 4/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn T và bà Nguyễn Thị B (đều đã chết); có chồng Trần Huy T (đã chết) và 03 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; hiện tại ngoại; có mặt.
- Người làm chứng:
Anh Trần Bá N, sinh năm 1977;
Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1983;
Nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Nam Định; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 17 giờ 30 phút ngày 06/01/2023, Công an xã T, huyện L, tỉnh Nam Định làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát tại địa bàn thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Nam Định thì phát hiện Nguyễn Thị G đi xe đạp bán số lô, số đề nên yêu cầu kiểm tra. Qua kiểm tra, G khai nhận hành vi bán số lô, số đề và giao nộp 01 sổ tay ghi số lô, số đề bán cho khách; 01 tập kết quả sổ số kiến thiết Miền Bắc; 01 điện thoại di động Nokia; 01 xe đạp màu xanh và số tiền 715.000đ (trong đó tiền cá nhân 100.000đ; tiền bán lô, đề 615.000đ). Sau khi lập biên bản vụ việc và xác định có dấu hiệu tội phạm, Công an xã T tiến hành chuyển vụ việc đến Công an huyện Mỹ Lộc để giải quyết theo thẩm quyền.
Khám xét chỗ ở của G tại thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Nam Định không thu giữ gì.
Kết quả điều tra xác định Nguyễn Thị G không nằm trong hệ thống Đại lý của Công ty TNHH MTV Xổ số tỉnh Nam Định. Lợi dụng việc mở thưởng kết quả sổ số kiến thiết Miền Bắc hằng ngày, G đi xe đạp quanh thôn H, xã T, huyện L để ghi tickê bán số lô, số đề cho khách rồi viết các số đã bán vào sổ tay để theo dõi. Hoặc có ai mua số lô, số đề qua tin nhắn điện thoại thì G nhắn tin lại “OK” tức là đã xác nhận việc mua bán lô, đề với nhau. Ngày 05/01/2023, G bán số lô, số đề qua tin nhắn điện thoại cho Nguyễn Văn L, sinh năm 1983 với số tiền 3.950.000đ; cho Trần Bá N, sinh năm 1977 với số tiền 4.600.000đ nhưng không có ai trúng thưởng; ngoài ra, G còn bán và ghi sổ theo dõi một số khách khác không rõ lai lịch số tiền 310.000đ. Ngày 06/01/2023, G đi xe đạp bán số lô, số đề cho một số khách không rõ lai lịch với số tiền 615.000đ và đang trên đường về nhà thì bị Công an xã T kiểm tra, lập biên bản thu giữ vật chứng. Tại thời điểm G được đưa về Công an xã T để làm việc thì Nguyễn Văn L, Trần Bá N và Nguyễn Bá D; trú tại thôn H, xã T vẫn tiếp tục nhắn tin mua số lô, số đề của G qua điện thoại nhưng lúc này điện thoại của G đã bị thu giữ nên G không biết. Về hình thức chơi số lô, số đề là người chơi sẽ chọn mua 02 số tự nhiên bất kỳ từ 00 đến 99; đối với số đề và lô xiên, khách mua bao nhiêu thì thu bấy nhiêu; đối với số lô thường thì khách mua 22.000đ/01 điểm lô. Sau đó, căn cứ vào 02 số cuối của tất cả các giải kết quả Xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày để xác định khách chơi thua hay thắng. Nếu số đề khách đã mua trùng với 02 số cuối cùng của giải đặc biệt kết quả sổ số kiến thiết Miền Bắc cùng ngày thì là trúng đề và G phải trả cho khách gấp 80 lần số tiền khách bỏ ra mua. Nếu số lô thường khách đã mua trùng với 02 số cuối của bất kỳ giải nào kết quả sổ số kiến thiết Miền Bắc cùng ngày thì là trúng lô và G phải trả khách 80.000đ/01 điểm lô. Nếu số lô xiên khách đã mua trùng hết với 02 số cuối của bất kỳ giải nào kết quả sổ số kiến thiết Miền Bắc cùng ngày thì là trúng lô xiên và G phải trả khách gấp 10 lần số tiền khách bỏ ra mua đối với lô xiên 2; gấp 45 lần số tiền khách bỏ ra mua đối với lô xiên 3. Còn lô 3 càng là gồm 03 chữ số nếu trùng với 03 số cuối cùng của giải đặc biệt kết quả sổ số kiến thiết Miền Bắc cùng ngày thì là trúng lô 3 càng và G phải trả khách gấp 400 lần số tiền khách đã bỏ ra mua lô 3 càng. Hành vi bán số lô, số đề của G ngày 05/01/2023 được xác định với tổng số tiền 8.860.000đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” nên bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Hành vi bán số lô, số đề của G ngày 06/01/2023 được xác định với tổng số tiền 615.000đ nên chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, Công an huyện Mỹ Lộc đã xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này.
Đối với Nguyễn Văn L, Trần Bá N và Nguyễn Bá D có hành vi mua số lô, số đề của G ngày 05 và 06/01/2023 nhưng được xác định chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Công an huyện Mỹ Lộc đã xử phạt vi phạm hành chính đối với L, N và D về hành vi mua số lô, số đề.
Theo lời khai của G, ngày 05 và 06/01/2023 còn bán số lô, số đề cho các khách mua khác không rõ lai lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để mở rộng điều tra, xử lý.
Bản cáo trạng số 14/CT-VKSML ngày 18 tháng 4 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Nguyễn Thị G về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự; xác định bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng và được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” và “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; ngoài ra, thời điểm thực hiện hành vi phạm tội thì bị cáo đã trên 70 tuổi nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm o khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà: Bị cáo Nguyễn Thị G khai nhận việc lợi dụng mở thưởng kết quả Xổ số kiến thiết Miền Bắc hằng ngày để bán số lô, số đề cho người chơi nhằm mục đích kiếm lời; xác nhận hành vi bán số lô, số đề cho khách ngày 05/01/2023 bị Viện kiểm sát truy tố về tội “Đánh bạc" là không oan, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị G phạm tội “Đánh bạc”; căn cứ áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, o, s khoản 1 Điều 51 và Điều 36 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ, miễn khấu trừ thu nhập và hình phạt bổ sung đối với bị cáo; căn cứ áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị xử lý vật chứng vụ án đã thu giữ. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, tạo điều kiện cho được tự sửa chữa lỗi lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mỹ Lộc, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy lời khai bị cáo tại phiên toà phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 05/01/2023, tại thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Nam Định, Nguyễn Thị G đã thực hiện hành vi bán số lô, số đề cho khách chơi với tổng số tiền là 8.860.000đ (Tám triệu tám trăm sáu mươi nghìn đồng). Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về dấu hiệu của đồng phạm khác: Trong vụ án này có Nguyễn Văn L, sinh năm 1983; Trần Bá N, sinh năm 1977 và Nguyễn Bá D, sinh năm 1982; cùng trú tại thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Nam Định đã tham gia mua số lô, số đề của Nguyễn Thị G. Tuy nhiên, hành vi mua số lô, số đề của những người này với số tiền đều dưới 5.000.000đ và nhân thân đều không có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc; tổ chức đánh bạc hay gá bạc. Vì vậy, Cơ quan điều tra đã không khởi tố điều tra mà xử lý hành chính về hành vi mua số lô, số đề đối với những người này là hoàn toàn đúng đắn.
Về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thị G là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo đã trực tiếp xâm phạm tới trật tự công cộng, là khách thể được pháp luật Nhà nước bảo vệ. Mặt khác, hành vi đánh bạc là một trong những tệ nạn bị xã hội lên án và loại trừ, bởi nó không chỉ là nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái về đạo đức mà còn tiềm ẩn nguy cơ phát sinh ra các loại tội phạm khác. Hành vi đó của bị cáo là vi phạm pháp luật Nhà nước, đi ngược lại nếp sống văn hoá cộng đồng. Vì vậy, bị cáo sẽ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của mình.
Về trách nhiệm hình sự: Xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi, khách thể được pháp luật Nhà nước bảo hộ bị xâm phạm, động cơ mục đích phạm tội của bị cáo, hậu quả nguy hại cho xã hội thì đối với bị cáo cần phải áp dụng biện pháp giáo dục nghiêm để cải tạo là thoả đáng; đồng thời cũng mới đáp ứng được yêu cầu răn đe, giáo dục phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét về nhân thân thì bị cáo không có tiền án, tiền sự; hành vi phạm tội của bị cáo không có tình tiết nào bị coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã trên 70 tuổi; quá trình khai báo bị cáo thành khẩn, nhận thức lỗi lầm, ăn năn hối cải. Đây là những tình tiết được Hội đồng xét xử xem xét vận dụng các điểm i, o, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo được hưởng chính sách khoan hồng của pháp luật Nhà nước. Xét biện pháp giáo dục của Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ, Hội đồng xét xử xét thấy việc cho bị cáo tự cải tạo, sửa chữa lỗi lầm tại cộng đồng dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng có thể trở thành công dân tốt. Vì vậy, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục là phù hợp.
Về khấu trừ thu nhập và hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người già, tuổi lao động đã hết nên không có thu nhập. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng việc khấu trừ thu nhập và hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Một chiếc điện thoại cũ thu giữ được xác định là phương tiện liên lạc của bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên sẽ bị tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước;
Một chiếc xe đạp màu xanh và số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) đã thu giữ được xác định là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên sẽ được trả lại cho bị cáo nhưng cần tiếp tục bảo quản để đảm bảo cho việc thi hành án;
Ngoài ra, số tiền 8.860.000đ (Tám triệu tám trăm sáu mươi nghìn đồng) được xác định là tiền bị cáo thu nhập bất hợp pháp do hành vi đánh bạc mà có nhưng chưa thu hồi được. Do đó, cần buộc bị cáo phải hoàn nộp số tiền này để tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước;
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị G phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, o, s khoản 1 Điều 51 và Điều 36 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo G 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ; thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục; bị cáo phải thực hiện những nghĩa vụ theo quy định về cải tạo không giam giữ; trường hợp có thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
2. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Trả lại bị cáo một chiếc xe đạp màu xanh cũ cùng số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) nhưng tiếp tục bảo quản để đảm bảo cho việc thi hành án; tịch thu nộp ngân sách Nhà nước một chiếc điện thoại cũ theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 21 tháng 4 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định;
Buộc bị cáo phải hoàn nộp số tiền 8.860.000đ (Tám triệu tám trăm sáu mươi nghìn đồng) để tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước;
3. Về án phí:
Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;
Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án;
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Mỹ Lộc; - Công an huyện Mỹ Lộc; - Chi cục THADS huyện Mỹ Lộc; - Hồ sơ vụ án; - Lưu: VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Nguyễn Văn Quang |