vanban.org

Bản án 16/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre Tuyên án 13/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[1.1]. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 02 (Hai) năm tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ Nguyễn Thanh T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỎ CÀY NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 16/2023/HS-ST
Ngày: 13-4-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM – TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thúy Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Trung

Bà Mai Thị Nhặc

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Thu Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Đông Hải – Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 4 năm 2023, tại Hội trường xét xử Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2023/TLST-HS, ngày 20 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2023/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2023, đối với:

Bị cáo: Nguyễn Thanh T (tên thường gọi: T Đầu B), sinh năm 1971 tại tỉnh Bến Tre.

Nơi đăng ký thường trú: Số 21/6 khu phố A, thị trấn M, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

Chỗ ở hiện nay: ấp H, xã Đ, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

Nghề nghiệp: Làm thuê.

- Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không.

- Trình độ học vấn: Lớp 3/12.

- Cha: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1936 (đã chết).

- Mẹ: Bà Nguyễn Thị Thọ H, sinh năm 1939 (đã chết).

- Bị cáo có 02 người chị ruột và 01 người anh ruột, lớn nhất sinh năm 1957, nhỏ nhất sinh năm 1966.

- Bị cáo không có vợ, con.

- Tiền án: Không.

- Tiền sự: Có 02 tiền sự, cụ thể:

+ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 21/QĐ-XPHC, ngày 06/8/2021 của Công an xã Đ, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre xử phạt 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (nộp phạt ngày 09/11/2021).

+ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 36/QĐ-XPHC, ngày 08/11/2021 của Công an xã Đ, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (chưa nộp phạt).

- Bị cáo bị cấm khỏi nơi cư trú từ ngày 09/9/2022 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại tòa.

- Người làm chứng (vắng mặt):

+ Anh Võ Quốc C (Tên thường gọi: C Que), sinh năm 1987; địa chỉ cư trú: ấp T, xã T1, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

+ Anh Đỗ Thành P, sinh năm 2000; địa chỉ cư trú: ấp T2, xã T3, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

+ Anh Nguyễn Minh T, sinh năm 2000; địa chỉ cư trú: ấp T2, xã T3, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng ngày 01/7/2022, Nguyễn Thanh T đến khu vực gần bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu thuộc thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre gặp một người thanh niên không rõ lai lịch mua một gói ma túy đá với giá 400.000 đồng và cất vào trong túi quần lửng phía trước bên trái (quần màu đen có chấm màu trắng) rồi đem về nhà thuê ở ấp H, xã Đ, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre lấy một ít để sử dụng, phần còn lại vẫn cất giấu trong túi quần trên. Đến chiều ngày 09/7/2022, bị cáo được một người bạn tên Võ Quốc C thuê chở cây mai vàng đi bán. Khi bị cáo mặc chiếc quần lửng có đặc điểm như trên, bên trong có gói ma túy rồi điều khiển xe gắn máy biển số 53PD-0048 chở cây mai vàng đến khu vực ấp T2, xã T3, huyện Mỏ Cày Nam thì bị lực lượng Công an xã T3 yêu cầu kiểm tra phương tiện. Do không xuất trình được giấy đăng ký xe nên mời bị cáo về trụ sở Công an xã T3 ở ấp H, xã T3, huyện Mỏ Cày Nam làm việc và bị phát hiện thu giữ số ma túy nói trên, đồng thời bàn giao vụ việc cùng tang vật cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mỏ Cày Nam thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ gồm: Công an xã T3 tạm giữ 01 gói nylon màu trắng có kích thước 04cm x 7.5cm, hàn kín ba cạnh, phía còn lại có rãnh bóp khép kín, phía trên có viền màu đỏ, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy, được niêm phong; 01 (một) xe gắn máy biển số 53PD-0048 và 01 (một) cây mai vàng có đường kính gốc 25cm, chiều cao 2.5m.

* Tại Bản kết luận giám định số 318/2022/KL-KTHS ngày 20 tháng 7 năm 2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre kết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nylon màu trắng có kích thước 04cm x 7.5cm, được hàn kín ba phía, phía còn lại có rãnh bóp khép kín, phía trên có viền màu đỏ, bên trong có chứa tinh thể màu trắng, được niêm phong trong phong bì ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 1,0318 gam. Mẫu vật hoàn trả sau giám định là 0,8050 gam ma túy, loại Methamphetamine.

* Quá trình điều tra, Nguyễn Thanh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án.

* Công an xã T3, huyện Mỏ Cày Nam đã trả: 01 (một) xe gắn máy biển số 53PD-0048 và 01 (một) cây mai vàng có đường kính gốc 25cm, chiều cao 2.5m cho bị cáo do không liên quan đến trộm cắp tài sản.

Mẫu vật hoàn trả sau giám định là 0,8050 gam ma túy tiếp tục tạm giữ.

* Tại Bản Cáo trạng số 16/CT-VKSMCN ngày 18 tháng 3 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Đề nghị Hội đồng xét xử:

Ghi nhận Công an xã T3, huyện Mỏ Cày Nam đã trả cho bị cáo: 01 (một) xe gắn máy và 01 (một) cây mai vàng có đặc điểm như nêu trên.

Tịch thu tiêu hủy vật chứng: Ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 0,8050 gam (Mẫu vật sau giám định).

Đối với người thanh niên bán ma túy cho Nguyễn Thanh T, hiện không rõ lai lịch, địa chỉ cụ thể, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện tiếp tục xác minh xử lý sau.

* Tại phiên toà, bị cáo đã khai và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp nội dung bản Cáo trạng; bị cáo thừa nhận hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật.

* Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết mình vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Đối với việc vắng mặt của người làm chứng tại phiên tòa, có đơn xin vắng, đã có lời khai cụ thể, rõ ràng tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và việc vắng mặt của những người này không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử sơ thẩm tiến hành xét xử vắng mặt họ là phù hợp với quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mỏ Cày Nam, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thanh T thừa nhận hành vi phạm tội, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ ngày 09/7/2022, tại Trụ sở Công an xã T3, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre phát hiện Nguyễn Thanh T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 1,0318 gam bên trong túi quần lửng phía trước bên trái của Nguyễn Thanh T đang mặc, nhằm mục đích để sử dụng. Do đó, Nguyễn Thanh T phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội của mình gây ra.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre truy tố bị cáo tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Thanh T là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng của cá nhân. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Tội phạm mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý ma túy, gây mất trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia. Việc sử dụng ma túy gây nguy hại cho sức khỏe con người, là mầm móng phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Đặc biệt trong tình hình hiện nay tội phạm về ma túy ngày có chiều hướng gia tăng và tinh vi hơn. Vì vậy, việc đưa ra xét xử đối với hành vi phạm tội của bị cáo là cần thiết, kịp thời và đúng quy định của pháp luật.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét về nhân thân của bị cáo: Bị cáo không có tiền án nhưng không được xem là người có nhân thân tốt. Lý do: Bị cáo có 02 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị Công an xã Đ, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre ra Quyết định sử phạt vi phạm hành chính số 21/QĐ-XPHC, ngày 06/8/2021 (đã nộp phạt ngày 09/11/2021) và Quyết định số 36/QĐ-XPHC, ngày 08/11/2021 (chưa nộp phạt).

Từ các phân tích trên, xét tính chất mức độ hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng nên cần áp dụng hình phạt tù thật nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm mục đích răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. Đồng thời, phòng ngừa chung trong toàn xã hội, nâng cao ý thức trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Xét thấy, việc Công an xã T3, huyện Mỏ Cày Nam đã trả cho bị cáo 01 (một) xe gắn máy biển số 53PD-0048 và 01 (một) cây mai vàng có đường kính gốc 25cm, chiều cao 2.5m do các tài sản này không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo là phù hợp nên ghi nhận.

- Đối với 0,8050 gam ma túy, loại Methamphetamine (Mẫu vật sau giám định) tuyên tịch thu tiêu hủy.

Đối với người thanh niên bán ma túy cho bị cáo không xác định được lai lịch và địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện tiếp tục xác minh làm rõ, không xử lý trong vụ án này.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Thanh T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[1.1]. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 02 (Hai) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

[1.2]. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

[2]. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Ghi nhận Công an xã T3, huyện Mỏ Cày Nam đã trả cho bị cáo 01 (Một) xe gắn máy biển số 53PD-0048 và 01 (Một) cây mai vàng có đường kính gốc 25cm, chiều cao 2.5m do các tài sản này không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

- Tuyên tịch thu tiêu hủy vật chứng: 0,8050 gam ma túy, loại Methamphetamine (Mẫu vật sau giám định).

(Vật chứng nêu trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 11/QĐ-VKS ngày 18/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/3/2023 giữa đại diện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện và Chi cục Thi hành án dân sự huyện).

[3]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Thanh T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[4]. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày (Mười lăm ngày) kể từ ngày Tòa tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ