vanban.org

Bản án 16/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 14/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Đình K phạm tội “Đánh bạc”. Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "án hình sự số 16 - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG ANA
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2023/HS-ST
Ngày: 14 - 6 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA, TỈNH ĐẮK LẮK

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tuyên.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Ana.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2023 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn số: 15/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 6 năm 2023, đối với bị cáo:

Đỗ Đình K, sinh ngày 03/10/1976 tại Quảng Nam;

Nơi cư trú: Thôn T, xã Ea, huyện K, tỉnh Đắk Lắk;

Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 02/12;

Dân tộc: kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Đỗ Đình L (đã chết) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1951.

Bị cáo có vợ là Ngô Thị T, sinh năm 1978 và có 02 con, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2013.

Tiền sự: Không;

Tiền án: Có một tiền án, tại bản án hình sự phúc thẩm số 132/2021/HS-PT ngày 10/5/2021 của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xử phạt 01 năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”, chấp hành xong ngày 25/01/2022, chưa được xoá án tích.

Nhân thân: Ngày 27/5/2016 bị TAND thành phố Buôn Ma Thuột xử phạt 09 tháng tù¸ cho hưởng án treo thời gian thử thách 01 năm 06 tháng, về tội “Đánh bạc” tại bản án hình sự sơ thẩm số 124/2016/HS-ST, đã được xóa án tích.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 1987, vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

Cư trú tại: Thôn T, xã Ea, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

2. Anh Võ Trung H1, sinh năm 1992, vắng mặt.

Cư trú tại: Thôn Ea, xã Ea, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào ngày 02/02/2023, Đỗ Đình K nhận ghi số đề và sử dụng kết quả xổ số của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Xổ số kiến thiết tỉnh Bình Định để tính thắng thua với người ghi số đề. Vào lúc 15 giờ 11 phút cùng ngày, Nguyễn Thanh H, sinh năm 1987, trú tại thôn T, xã Ea, huyện K, tỉnh Đắk Lắk sử dụng số điện thoại 0888800XXX của H nhắn tin đến số điện thoại 0346660XXX của K với nội dung “89x20 54x20", có nghĩa là H ghi số 89 và 54, mỗi số cá cược bao lô 20 điểm, mỗi điểm tương đương 14.000 đồng, số tiền cá cược là 560.000 đồng thì K đồng ý và gọi điện thoại lại cho H để xác nhận đã ghi. Đến khoảng 16 giờ 00’ cùng ngày, Võ Trung H1, sinh năm 1992, trú tại thôn Ea, xã Ea, huyện K, tỉnh Đắk Lắk đi bộ đến nhà Đỗ Đình K và sử dụng 130.000 đồng để ghi số 62, cá cược bao lô 10 điểm, mỗi điểm tương đương 13.000 đồng, số tiền cá cược là 130.000 đồng thì K đồng ý ghi và nhận tiền của H. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi có kết quả mở thưởng, H kiểm tra thì biết đã thắng được lô số 89, thắng được số tiền 1.400.000 đồng nên đến nhà K để tính tiền thắng thua thì bị Công an huyện Krông Ana kiểm tra, lập biên bản, thu giữ số tiền 560.000 đồng và 01 điện thoại di động mang nhãn hiệu Vsmart loại cảm ứng màu xanh có gắn sim số 0346660XXX; 01 diện thoại di động mang nhãn hiệu Nokia màu đen gắn sim sổ 0888800XXX là tang vật các đối tượng sử dụng để đánh bạc.

Số tiền sử dụng để đánh bạc cụ thể như sau: Nguyễn Thanh H cá cược số 89 và 54, số tiền cá cược là 560.000 đồng; kết quả thắng được 1.400.000 đồng; Võ Trung H1 cá cược số 62, số tiền cá cược là 130.000 đồng, kết quả thua. Như vậy, tổng số tiền Đỗ Đình K sử dụng để đánh bạc với Nguyễn Thanh H và Võ Trung H1 vào ngày 02/02/2023 là 2.090.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định Đỗ Đình K là đối tượng có tiền án về tội “Tổ chức đánh bạc”, cụ thể: Tại bản án hình sự phúc thẩm số 132/2021/HS-PT ngày 10/5/2021 của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xử phạt Đỗ Đình K 01 năm tù về tội Tổ chức đánh bạc, chấp hành xong ngày 25/01/2022, chưa được xoá án tích.

Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu, xử lý vật chứng:

Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Ana đã thu giữ, gồm:

+ Số tiền 560.000 đồng mà các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc;

+ 01 sim điện thoại số 0948460XXX, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vmart loại cảm ứng màu xanh (điện thoại bị vỡ đôi, bung màn hình thành nhiều mảnh, bên trong điện thoại có sim số 0346660XXX) thu giữ của Đỗ Đình K. Đây là công cụ, phương tiện mà bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc, không còn giá trị sử dụng.

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen gắn sim số 0888800xxx thu giữ của Nguyễn Thanh H. Đây là công cụ, phương tiện liên quan đến việc phạm tội.

Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 01/QĐ-VKS-HS ngày 29/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana truy tố bị cáo Đỗ Đình K về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung quyết định truy tố.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung quyết định truy tố, đề nghị Tòa án tuyên bố bị cáo Đỗ Đình K phạm tội “Đánh bạc”.

Về hình phạt: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Đình K từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

* Về xử lý vật chứng:

+ Đối với số tiền 560.000 đồng thu giữ của bị cáo là số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc, đề nghị tịch thu sung ngân sách nhà nước.

+ Đối với 01 sim điện thoại số 0948460xxx, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vmart loại cảm ứng màu xanh (điện thoại bị vỡ đôi, bung màn hình thành nhiều mảnh, bên trong điện thoại có sim số 0346660xxx) thu giữ của Đỗ Đình K. Đây là công cụ, phương tiện mà bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc, do không còn giá trị sử dụng, đề nghị tịch thu tiêu hủy.

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen gắn sim số 0888800xxx thu giữ của Nguyễn Thanh H. Đây là công cụ, phương tiện liên quan đến việc phạm tội, đề nghị tịch thu sung ngân sách nhà nước.

+ Đối với tiền 1.530.000 đồng của Đỗ Đình K chưa thu được. Đây là số tiền dùng vào việc đánh bạc, đề nghị truy thu vào sung ngân sách nhà nước.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, để bị cáo yên tâm cải tạo sớm trở về gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhân dân huyện Krông Ana nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Krông Ana, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ai khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung quyết định truy tố, phù hợp với vật chứng và các tài liệu, chứng cứ được thu thập có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Đỗ Đình K đã bị kết án về tội ‘Tổ chức đánh bạc” tại bản án hình sự phúc thẩm số 132/2021/HS-PT ngày 10/5/2021 của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, bị xử phạt 01 năm tù và đã chấp hành xong hình phạt vào ngày 25/01/2022, chưa được xoá án tích. Ngày 02/02/2023 bị cáo thực hiện hành vi ghi lô đề cho Nguyễn Thanh H với số tiền cá cược 560.000 đồng, kết quả mở thưởng H thắng cá cược 1.400.000 đồng, cùng ngày bị cáo còn ghi lô đề cho Võ Trung H1 với số tiền 130.000 đồng, kết quả H1 thua. Như vậy, tổng số tiền bị cáo đánh bạc là 2.090.000 đồng, đến 18 giờ 00’ cùng ngày, khi H đến nhà K để tính tiền thắng thua, thì bị Công an huyện Krông Ana kiểm tra, lập biên bản vi phạm, thu giữ số tiền 560.000 đồng và các vật chứng khác. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo hoàn toàn bình thường về thể lực, trí lực, có năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên hành vi của Đỗ Đình K đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định:

“Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Xét Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm trật tự trị an xã hội, bị cáo là người có đầy đủ khả năng nhận thức, buộc phải biết việc ghi lô đề được thua bằng tiền là hình thức đánh bạc trái phép bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng xuất phát từ ý thức coi thường pháp luật, động cơ tư lợi, muốn có tiền tiêu xài từ việc đánh bạc nên bị cáo đã phạm tội với lỗi cố ý, phải chịu trách nhiệm hình sự do mình gây ra, cần xử lý nghiêm mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo nói riêng, đồng thời có tác dụng phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình có hoàn cảnh khó khăn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đối với Nguyễn Thanh H, Võ Trung H đã có hành vi đánh bạc cùng với Đỗ Đình K. Tuy nhiên, số tiền các đối tượng dùng để đánh bạc là 2.090.000 đồng (H 1.960.000 đồng, H1 130.000 đồng). Quá trình điều tra xác định H, H1 chưa bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc và chưa bị kết án về tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc. Do đó, hành vi của H và H1 không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Trưởng Công an huyện Krông Ana ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Thanh H, Võ Trung H1 bằng hình thức phạt tiền là phù hợp.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Đối với số tiền 560.000 đồng thu giữ của bị cáo là số tiền sử dụng vào việc đánh bạc, cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

+ Đối với 01 sim điện thoại số 0948460xxx, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vmart loại cảm ứng màu xanh (điện thoại bị vỡ đôi, bung màn hình thành nhiều mảnh, bên trong điện thoại có sim số 0346660xxx) thu giữ của Đỗ Đình K. Đây là công cụ, phương tiện mà bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc, nhưng không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen gắn sim số 0888800xxx thu giữ của Nguyễn Thanh H. Đây là công cụ, phương tiện liên quan đến việc phạm tội, cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

+ Đối với tiền 1.530.000 đồng của Đỗ Đình K chưa thu được. Đây là số tiền dùng vào việc đánh bạc, cần truy thu sung ngân sách nhà nước.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Đình K phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Đình K 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bắt thi hành án.

[2] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 560.000 đồng thu giữ của bị cáo là số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc (được trích tại biên lai thu số 4580 ngày 08/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Ana).

+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen gắn sim số 0888800xxx.

+ Tịch thu tiêu hủy 01 sim điện thoại số 0948460xxx, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vmart loại cảm ứng màu xanh, (điện thoại bị vỡ đôi, bung màn hình thành nhiều mảnh, bên trong điện thoại có sim số 0346660xxx) không còn giá trị sử dụng. (Các vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Ana và Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Ana ngày 06/6/2023).

+ Truy thu số tiền 1.530.000 đồng (Một triệu năm trăm ba mươi nghìn đồng) của Đỗ Đình K, sung vào ngân sách nhà nước.

[3] Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Đỗ Đình K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Cỡ chữ