vanban.org

Bản án 16/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ea H'Leo, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 07/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Y DN HĐơk, phạm tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”;

Xử phạt: Bị cáo Y DN HĐơk 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Các biện pháp tư pháp: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Y DN Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Y DN HĐơk, phạm tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 175 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN EA H’LEO
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2023/HS-ST
Ngày: 07-3-2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nụ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Hoàng Sơn.

2. Ông Hoàng Tuyển.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Hằng Nga – Thư ký Toà án nhân dân huyện Ea H’leo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’leo tham gia phiên tòa: Ông Hồ Quang Phúc – Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 3 năm 2023, tại Phòng xử án, Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đăk Lăk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2023/HSST, ngày 03 tháng 02 năm 2023 theo quyết đinh đưa vụ án ra xét xử số 11/2023/QĐXXST-HS ngày 10/02/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/20203/HSST-QĐ ngày 24/02/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Y DN HĐơk (Tên gọi khác: Không); Sinh năm: 1983, tại tỉnh Đắk Lắk. Nơi ĐKHKTT: Buôn ALA, phường ET, TP. BMT, tỉnh Đắk Lắk; Chỗ ở hiện nay: Buôn TL, xã ES, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Ê Đê; giới tính Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Y N Byă (đã chết) và bà H’M H’Đơk, sinh năm 1955; vợ là H’Th Byă, sinh năm 1985; Bị cáo có 02 người con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2015;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 02/12/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Buôn TL, xã ES, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Ksơr Ph – sinh năm 1975. Chức vụ: Buôn trưởng. Địa chỉ: Buôn TL, xã ES, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Hà Thị Ngọc A – sinh năm 1984; Địa chỉ: T8, xã CÊ, TP. BMT, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

+ Ông Y W H’Mǒk – sinh năm 1980; Địa chỉ: Buôn K1, xã EB, huyện BĐ, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

+ Bà H’T ADrơng – sinh năm 1986; Địa chỉ: Buôn K4, xã EB, huyện BĐ, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

+ Ông Ksơr PH – sinh năm 1959. Địa chỉ: Buôn TL, xã ES, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào năm 2006, Công TL khai thác đá Hoàng Sơn Đắk Lắk, tặng cho Buôn TL, xã ES, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, số tiền là 25.000.000 đồng để mua 01 bộ cồng chiêng phục vụ sinh hoạt cộng đồng của Buôn TL. Sau khi nhận số tiền trên Buôn TL thống nhất bỏ thêm số tiền 5.000.000 đồng và cử ông Ksơr PH (là Buôn trưởng Buôn TL vào thời điểm đó); Y N Byă (là bố đẻ của Y DN Hđơk); Ksơr B (là Công an viên của Buôn TL vào thời điểm đó) và ông Ksơr Nr đi đến nhà ông Nay D, sinh năm 1966, trú tại: Buôn SMS, xã IM, huyện IP, tỉnh Gia Lai, mua 01 bộ cồng chiêng gồm 27 cái (có đặc điểm và đường kính khác nhau, từ 20,5cm đến 55cm), tất cả đều bằng kim loại, hình tròn, với giá tiền 30.000.000 đồng. Sau khi mua về, bộ cồng chiêng được cất giữ tại nhà ông Ksơr PH để phục vụ cho sinh hoạt cộng đồng của Buôn TL. Đến khoảng đầu năm 2021, ông Nay K, sinh năm 1967, trú tại: Buôn TL, xã ES, huyện Eeo, đến mượn bộ cồng chiêng về để cúng nhà mồ theo Phong tục, sau đó để tại nhà của mình. Ngày 07/06/2021, Y DN HĐơk đến nhà ông Nay K mượn bộ cồng chiêng nêu trên mang về thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, để cúng nhà mồ cho bố là ông Y N Byă. Sau khi cúng xong, vào khoảng cuối tháng 06/2021 thì Y DN HĐơk nảy sinh ý định mang bộ cồng chiêng trên bán để lấy tiền tiêu xài nên đã liên hệ với ông Y W H’Mǒk, sinh năm 1980, trú tại: Buôn K1, xã EB, huyện BĐ, tỉnh Đắk Lắk, nhờ bán giùm. Y W H’Mǒk liên hệ và bán bộ cồng chiêng cho bà Hà Thị Ngọc A, sinh năm 1984, trú tại: T8, xã CÊ, thành phố BMT, tỉnh Đắk Lắk (Y W H’Mǒk khai bán được với giá 25.000.000 đồng đưa cho Y DN HĐơk 18.000.000 đồng, 7.000.000 đồng còn lại thì giữ lại và tiêu xài cá nhân; bà Ngọc A khai mua bộ cồng chiêng với giá 35.000.000 đồng, nhưng không có tài liệu chứng minh). Về phía Buôn TL, xã Ea Sol sau nhiều lần liên lạc yêu cầu Y DN HĐơk trả lại bộ cồng chiêng cho Buôn TL nhưng vẫn không trả, nên ngày 16/09/2022 đã đến trình báo cơ quan Công an.

Tại bản Kết luận định giá số 750/KL-HĐĐGTS ngày 15/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ea H’Leo, kết luận: Bộ cồng chiêng (27 cái, được làm bằng kim loại) tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị là 28.000.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 13/CT-VKS ngày 02/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk truy tố bị cáo Y DN HĐơk, về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Y DN HĐơk, phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; các điểm b, h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Y DN HĐơk từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ea H’Leo đã trả bộ cồng chiêng gồm 27 cái bằng kim loại, hình tròn cho ông Ksơr Ph (Buôn trưởng Buôn TL, xã ES, huyện E), là chủ sở hữu hợp pháp.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584 và Điều 589 Bộ luật dân sự; Đề nghị HĐXX chấp nhận bị cáo Y DN HĐơk đã tự nguyện bồi thường số tiền 18.000.000 đồng cho bà Hà Thị Ngọc A; ông Y W H’Mǒk đã tự nguyện bồi thường số tiền 7.000.000 đồng cho bà Hà Thị Ngọc A. Sau khi nhận đủ số tiền 25.000.000 đồng, bà Hà Thị Ngọc A không có yêu cầu gì thêm, nên không đề cập xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trA tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Ea H’Leo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đều không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo đã truy tố đối với bị cáo. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận:

Vào ngày 07 tháng 6 năm 2021, tại Buôn TL, xã ES, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, bị cáo Y DN HĐơk có hành vi lạm dụng tín nhiệm để chiếm đoạt 01 bộ cồng chiêng gồm có 27 cái, bằng kim loại, hình tròn, có kích thước từ 20,5cm đến 55cm của Buôn TL, xã ES, huyện E. Sau đó bị cáo đã nhờ ông Y W H’Mǒk bán bộ công chiêng cho bà Hà Thị Ngọc A với giá 25.000.000 đồng.

Tại bản Kết luận định giá số 750/KL-HĐĐGTS ngày 15/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ea H’Leo, kết luận: Bộ cồng chiêng (27 cái, được làm bằng kim loại) tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị là 28.000.000 đồng.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng, cũng như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự.

Tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự, quy định:

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả”.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện để chiếm đoạt tài sản của Buôn TL, nhờ người khác bán lấy tiền tiêu xài cho bản thân, nên thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Vì vậy, cần có mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạp tội của bị cáo, nên cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt, nhằm răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và thật sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại vì tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã tự nguyện trả lại cho bà Hà Thị Ngọc A số tiền 18.000.000 đồng để khắc phục hậu quả, đại diện Buôn TL và bà Hà Thị Ngọc A cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, khi lượng hình cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Đối với ông Y W H’Mǒk đã có hành vi bán bộ cồng chiêng cho bà Hà Thị Ngọc A. Tuy nhiên, khi bán bộ cồng chiêng, ông Y W không biết đây là tài sản do bị cáo chiếm đoạt của Buôn TL mà có, nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với bà Hà Thị Ngọc A, có hành vi mua bộ cồng chiêng của ông Y W H’Mǒk. Tuy nhiên, khi mua bà Ngọc A, không biết đây là tài sản do bị cáo Y DN Hđơk chiếm đoạt của Buôn TL mà có, nên không có căn cứ để xử lý.

Xét lời luận tội của đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật, nên cần chấp nhận.

Các biện pháp tư pháp :

- Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra công an huyện Ea H’Leo đã thu giữ bộ cồng chiêng gồm 27 cái, bằng kim loại, hình tròn, có đặc điểm và kích thước khác nhau (nhỏ nhất chiêng đường kính 20,5cm, lớn nhất có đường kính 55cm) do bà Hà Thị Ngọc A giao nộp. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ea H’Leo đã ra Quyết định xử lý vật chứng giao trả bộ cồng chiêng gồm 27 cái bằng kim loại, hình tròn cho ông Ksơr Ph (Buôn trưởng Buôn TL, xã ES, huyện E). Xét việc giao trả tài sản của Cơ quan công an huyện Ea H’Leo là có căn cứ, phù hợp với điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự và điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, cần chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 589 Bộ luật dân sự; Chấp nhận việc bị cáo Y DN HĐơk và ông Y W H’Mǒk đã bồi thường cho bà Hà Thị Ngọc A số tiền 25.000.000 đồng (trong đó, bị cáo Y DN HĐơk đã bồi thường cho bà A số tiền 18.000.000 đồng và ông Y W H’Mǒk đã bồi thường cho bà A số tiền 7.000.000 đồng. Buôn TL sau khi nhận lại bộ công Chiêng và bà A Sau khi nhận đủ số tiền 25.000.000 đồng, đều không có yêu cầu giải quyết về phần trách nhiệm dân sự, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Bị cáo Y DN HĐơk phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Y DN HĐơk, phạm tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”;

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm b, h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Bị cáo Y DN HĐơk 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Các biện pháp tư pháp:

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự và điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận việc Công an huyện Ea H’Leo đã giao trả bộ cồng chiêng gồm 27 cái bằng kim loại, hình tròn cho ông Ksơr Ph (Buôn trưởng Buôn TL, xã ES, huyện E), là chủ sở hữu hợp pháp.

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 589 Bộ luật dân sự; Chấp nhận việc bị cáo Y DN HĐơk và ông Y W H’Mǒk đã bồi thường cho bà Hà Thị Ngọc A số tiền 25.000.000 đồng (trong đó, bị cáo Y DN HĐơk đã bồi thường cho bà A số tiền 18.000.000 đồng và ông Y W H’Mǒk đã bồi thường cho bà A số tiền 7.000.000 đồng. Buôn TL sau khi nhận lại bộ công Chiêng và bà A Sau khi nhận đủ số tiền 25.000.000 đồng, đều không có yêu cầu giải quyết về phần trách nhiệm dân sự, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Bị cáo Y DN HĐơk phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ nơi đương sự cư trú.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ