vanban.org

Bản án 16/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Tiền Giang Tuyên án 23/02/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/02/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Hồ Chí T.

Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 98/2022/HS-ST ngày 23 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Tiền Giang: Tuyên bố bị cáo Hồ Chí T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Chí T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Hồ Chí T.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2023/HS-PT
Ngày 23 – 02 -2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thanh Bình.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Tuấn.

Ông Mai Văn Hùng Cường.

Thưkýphiêntòa:Bà PhạmThịHồngMơ– ThưkýToàánnhândântỉnhTiềnGiang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Minh- Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 02 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 214/2022/TLPT-HS ngày 28 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo Hồ Chí T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 98/2022/HS-ST ngày 23 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Tiền Giang.

- Bị cáo có kháng cáo.

Hồ Chí T, sinh năm 1988, tại tỉnh Tiền Giang. Nơi cư trú: Số 15/8 Đ, phường X, TP T, tỉnh Tiền Giang. Nghề nghiệp: Kinh doanh. Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Giới tính: Nam; Con ông Hồ Chí T4, sinh 1954 và bà Nguyễn Thị H, sinh 1959; Vợ là Trần Thanh V, sinh năm 1993; bị cáo có 02 người con sinh 2013 và 2019; Tiền sự: 01 lần: Ngày 20/4/2022, bị Công an xã C, thành phố T xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (Quyết định số 19/QĐ-XPHC). Tiền án: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 17/8/2022, tạm giam từ ngày 23/8/2022. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Bản án không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 10 giờ 20 phút ngày 15/8/2022, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý phối hợp với Phòng quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an tỉnh Tiền Giang, Công an thành phố T, Công an Phường Z, thành phố T kiểm tra hành chính tại phòng số 03 khách sạn “N” địa chỉ số 25A, đường V, khu phố Y, Phường X, thành phố T do bị cáo Hồ Chí T thuê nghỉ qua đêm, phát hiện bị cáo tàng trữ trái phép ma tuý trong ống thuỷ tinh có phễu tròn được gắn vào chai nhựa có chữ AQUAFINA chứa nước để cạnh chân bàn gỗ nên lập biên bản sự việc và niêm phong ống thuỷ tinh có chứa chất ma tuý cùng vật chứng liên quan. Đến ngày 17/8/2022 Hồ Chí T bị bắt giữ để điều tra.

Căn cứ Bản kết luận giám định số 85 ngày 16/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang kết luận: Mẫu tinh thể màu nâu trong một đoạn ống thuỷ tinh được uốn cong dạng phễu để trong một bì thư được niêm phong có các chữ ký ghi họ tên: Hồ Chí T, Nguyễn Hoàng S và hình dấu tròn đỏ ghi Công an Phường X, thành phố T, tỉnh Tiền Giang gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1062 gam, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra Hồ Chí T khai nhận: T bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2007. Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 14/8/2022, T đến khách sạn “N” thuê phòng số 03, sau khi nhận phòng, T gọi điện thoại cho người tên T2 (không rõ họ, địa chỉ) qua mạng xã hội facebook có tên “T2 Đ” để mua 500.000 đồng ma túy. Trong lúc đợi T2 đến, T gọi điện thoại cho bạn gái tên T3 (không rõ họ, địa chỉ) đến khách sạn ở cùng với T. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, T3 đến thì T thuê thêm phòng số 07 để ở với T3. Đến khoảng 03 giờ ngày 15/8/2022 T3 ra về, T quay lại phòng số 03 ngủ. Khoảng 05 giờ 30 phút cùng ngày, T2 đến vào phòng số 03 gặp T, tại đây T2 đưa T một bịch ma tuý đá cùng ống thủy tinh (nỏ), T trả T2 500.000 đồng, T lấy chai nước suối có sẵn trong phòng khoét lỗ trên nắp, T2 lấy bịch ma tuý trút hết vào ống thuỷ tinh có gắn ống nhựa đưa T gắn vào chai nhựa rồi cả hai cùng sử dụng ma túy. Sau đó, T2 ra về, T tiếp tục sử dụng rồi đặt dụng cụ sử ma tuý cạnh chân bàn. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, Nguyễn Bảo L (không rõ địa chỉ) đến gặp T nói chuyện việc thuê xe khoảng 10 phút thì L ra về. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, T vừa bước ra cửa để trả phòng thì lực lượng Công an đến kiểm tra phát hiện lập biên bản và thu giữ tang vật. T cất giữ ma túy nhằm mục đích để sử dụng cá nhân.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 98/2022/HS-ST ngày 23 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Tiền Giang đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Hồ Chí T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Hồ Chí T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 17/8/2022.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 02 tháng 12 năm 2022, bị cáo Hồ Chí T kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Hồ Chí T khai nhận hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung bản án sơ thẩm, đồng thời có ý kiến giữ nguyên yêu cầu kháng cáo là xin giảm nhẹ hình phạt và bổ sung thêm chứng cứ mới là giấy chứng nhận thương binh của ông Hồ Chí T4 là cha ruột của bị cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang trong phần tranh luận phát biểu quan điểm giải quyết vụ án đã phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân cùng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, mức án Tòa án cấp sơ thẩm tuyên đối với bị cáo là phù hợp. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo có cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới, cha bị cáo là thương binh hạng 4/4 nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Hồ Chí T, sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 98/2022/HS-ST ngày 23 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Tiền Giang theo hướng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo từ 02 - 03 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa, bị cáo Hồ Chí T đã thừa nhận hành vi phạm tội đúng như bản cáo trạng và bản án sơ thẩm đã nêu, lời thừa nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã thể hiện: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 14/8/2022, bị cáo đến khách sạn “N” thuê phòng số 03, sau khi nhận phòng, bị cáo gọi điện thoại cho người tên T2 (không rõ họ, địa chỉ) qua mạng xã hội facebook có tên “T2 Đ” để mua 500.000 đồng ma túy. Khoảng 05 giờ 30 ngày 15/8/2022, T2 đến phòng số 03 gặp bị cáo, tại đây T2 đưa bị cáo một bịch ma tuý đá cùng ống thủy tinh (nỏ), bị cáo trả T2 500.000 đồng, bị cáo lấy chai nước suối có sẵn trong phòng khoét lỗ trên nắp, T2 lấy bịch ma tuý trút hết vào ống thuỷ tinh có gắn ống nhựa đưa bị cáo gắn vào chai nhựa rồi cả hai cùng sử dụng ma túy. Sau đó, T2 ra về, bị cáo tiếp tục sử dụng rồi đặt dụng cụ sử ma tuý cạnh chân bàn. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, bị cáo vừa bước ra cửa để trả phòng thì lực lượng Công an đến kiểm tra phát hiện lập biên bản và thu giữ tang vật. Khối lượng ma túy mà bị cáo tàng trữ là 0,1062 gam, loại Methamphetamine.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm kết luận bị cáo Hồ Chí T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có cơ sở, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo Hồ Chí T là nguy hiểm cho xã hội, nó không chỉ xâm phạm trực tiếp đến những quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, mà nó còn gây tác hại to lớn tới sức khỏe con người, là nguyên nhân dẫn tới các loại tội phạm khác gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo là cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Xét yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Hồ Chí T Hội đồng xét xử nhận thấy: Khi quyết định hình phạt Tòa án sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo T 01 năm 06 tháng tù là thỏa đáng. Tuy nhiên, xét thấy tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo có bổ sung được tình tiết cha của bị cáo là ông Hồ Chí T4 được Nhà nước công nhận là Thương binh hạng 4/4. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do có tình giảm nhẹ mới nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp.

Xét ý kiến và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần khác của quyết định án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

QUYẾT ĐỊNH:

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Hồ Chí T.

Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 98/2022/HS-ST ngày 23 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Tiền Giang:

1. Tuyên bố bị cáo Hồ Chí T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Hồ Chí T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 17/8/2022.

2. Về án phí: Bị cáo Hồ Chí T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã phát sinh hiệu lực pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ