- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Trung S - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án sơ thẩm số: 117/2022/HSST ngày 16 tháng 11 năm 2022 của Toà án nhân dân thành phố Phú Q, tỉnh Kiên Giang.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2023/HS-PT Ngày: 20-02-2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Thuấn
Các Thẩm phán: Ông Trưg Ngọc Hồng
Bà Nguyễn Diệu Hiền
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Nghĩa Biên - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 254/2022/TLPT-HS ngày 16 tháng 12 năm 2022 đối với các bị cáo Vũ Trung S, Ngô Đức Q, do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 117/2022/HS-ST ngày 16 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Q, tỉnh Kiên Giang.
- Các bị cáo có kháng cáo:
1. Họ và tên: Vũ Trung S, sinh năm 2000, tại Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh.
Nơi ĐKHKTT: Thôn 1, xã Cẩm Thạch, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Chỗ ở: Ấp Bến Tràm, xã Cửa Dưg, thành phố Phú Q, Kiên Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Q tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Trung Biển và bà Nguyễn Thị Thủy; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/3/2022 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Ngô Đức Q, sinh năm 1997, tại Phú Q, Kiên Giang.
Nơi ĐKHKTT: Tổ 1, ấp Bến Tràm, xã Cửa Dưg, thành phố Phú Q, Kiên Giang. Chỗ ở: Ấp Cây Thông Trong, xã Cửa Dưg, thành phố Phú Q, Kiên Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Q tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Đức Lam và bà Nguyễn Thị Thủy; Tiền án: Không; Tiền sự: Bị Tòa án nhân dân thành phố Phú Q đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng. Đến ngày 27/12/2019 chấp hành xong quyết định; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/3/2022 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ, ngày 11/12/2021, Vũ Trung S gọi điện thoại cho người nữ tên Kiều (chưa rõ nhân thân), ở chợ Gành Dầu, xã Gành Dầu, thành phố Phú Q để đòi nợ, Kiều không trả và thách thức, nên S gọi điện thoại cho Phạm Bá Hữu kêu thuê xe ô tô chở đi Gành Dầu để đòi nợ và S tiếp tục gọi cho Ngô Đức Q và Diệp Xuân Nam kêu đi Gành Dầu để lấy tiền nợ, Nam và Q đồng ý. Sau đó, S và Tùng (chưa rõ nhân thân) mang theo 01 cái bao bên trong có 03 cây dao rựa gồm: 01 cây dao rựa dài 77,5cm; 01 cây dao rựa dài 80,5cm và 01 cây dao rựa dài 85,5cm đến quán cà phê trên đường tuyến tránh thuộc ấp Cây Thông Trong, xã Cửa Dưg, thành phố Phú Q nhằm để khi có xảy ra đánh nhau thì sử dụng. Khi đến quán S cất giấu cái bao đựng 03 cây dao rựa vào bụi cây gần đó. Sau đó Q điều khiển xe mô tô chạy đến chỗ S, để đợi Hữu đến rước. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, Hữu đến nhà Phạm Tuấn Huy, thuộc ấp Bến Tràm, xã Cửa Dưg, thành phố Phú Q thuê xe ô tô biển kiểm soát 68C – 125.71, chạy lại quán rước S, Tùng và Q. Khi lên xe S mang bao đựng dao rựa, S, Q và Tùng ngồi dãy ghế sau, S kêu Hữu chạy xe đến nhà của Nam thuộc ấp Cây Thông Trong rước Nam, khi lên xe Nam ngồi bên cạnh Hữu. Trên đường đi, S nói cho mọi người biết đi đến Gành Dầu gặp Kiều để lấy tiền nợ. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, Hữu điều khiển xe đến quán lẩu dê “Phú Luận”, thuộc ấp Gành Dầu, xã Gành Dầu thì S nhìn thấy Nguyễn Văn Huấn, Uông Sỹ Thiện, Nguyễn Hữu Quỳnh, Bùi Gia Nghị, Nguyễn Quang Hiệp và Nguyễn Văn Vượng từ trong quán “Phú Luận” đi ra, do có mâu thuẫn với Huấn trước đó, nên S kêu Hữu dừng xe, Hữu đậu xe cách quán khoảng 05m. S bước xuống xe đi đến cự cải với Huấn, sau đó S kêu Tùng lấy bao đựng dao rựa trên xe đưa xuống, S lấy 01 cây dao rựa cầm trên tay, Tùng và Q xuống xe lấy mỗi người 01 cây dao rựa cầm trên tay, còn Hữu và Nam ngồi trên xe ô tô. Lúc này có 01 nhóm khoảng 04 người (chưa rõ nhân thân) đi trên 01 xe ô tô bán tải khác (chưa rõ biển kiểm soát) chạy đến, xuống xe cầm hung khí (chưa rõ) rược chém nhóm Huấn. Thấy vậy, S và Tùng cầm dao rựa chém nhiều nhát trúng Nguyễn Văn Huấn vào trán – thái dưg trái, bàn tay phải gây thưg tích. S và Tùng tiếp tục rược chém nhiều nhát trúng Nguyễn Hữu Quỳnh vào vùng bả vai trái, lưng phải và cánh tay phải gây thưg tích. Sau đó, S, Tùng và Q tiếp tục cầm dao rựa rược chém nhiều nhát trúng Uông Sỹ Thiện vào bàn tay phải, cắng chân phải, bàn chân phải và đùi trái gây thưg tích. Trong lúc đánh nhau, xe ô tô biển kiểm soát 68A – 104.17 của anh Huấn bị nhóm người chưa rõ nhân thân đập phá làm hư hỏng kính chiếu hậu bên trái. Sau khi gây thưg tích xong, S, Tùng và Q lên xe ô tô đi về, còn anh Huấn, Quỳnh và Thiện được đưa đến Bệnh viện đa khoa Q tế Vinmec Phú Q cấp cứu và điều trị. Đến ngày 20/01/2022, Vũ Trung S và Ngô Đức Q đến Cơ quan điều tra đầu thú và giao nộp 03 cây rựa. Đến ngày 22/02/2022, bị cáo S và Q bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Phú Q khởi tố, tạm giam để điều tra.
Vật chứng thu giữ:
+ 01 cây dao rựa dài 77,5cm, cán bằng gỗ dài 52,5cm, phần lưỡi bằng kim loại, 01 bề sống uốn cong, lưỡi sắc bén, mũi bằng dài 25cm;
+ 01 cây dao rựa dài 80,5cm, cán bằng kim loại dài 51cm, phần lưỡi bằng kim loại, 01 bề sống uốn cong, lưỡi sắc bén, mũi bằng dài 29,5cm;
+ 01 cây dao rựa dài 85,5cm, cán bằng kim loại dài 58cm, phần lưỡi bằng kim loại, 01 bề sống uốn cong, lưỡi sắc bén, mũi bằng dài 27,5cm.
+ 01 xe ô tô tải Pickup kép 05 chỗ, biển kiểm soát 68C – 125.71, số loại NAVARA, nhãn hiệu NISAN, màu xám, số máy YD25870391T, số khung MNTCC4D23Z0051519, đã qua sử dụng;
+ 01 vỏ đạn bằng kim loại, màu vàng, chiều dài 2,2cm, phần đít đạn có in dòng chữ “YAS OLD 9mm P.A.K”, đã qua sử dụng;
+ 01 cái áo khoác màu trắng bạc, loại áo khóa bằng dây kéo, móc kéo bằng kim loại, trên móc kéo có dòng chữ “FASHION”, đã qua sử dụng;
+ 01 đôi giày thể thao bằng vải, màu trắng xanh, chiều dài 28cm, dưới đế giày có in dòng chữ “THANGLOI SHOE”, đã qua sử dụng;
+ 01 cái quần Jean nam, nhãn hiệu “JOGGERMEN PANTS PREMIUM”, size “L”, màu xanh xám, dài 85cm, đã qua sử dụng;
+ 01 cái áo thun tay dài màu đỏ, sọc ngang trắng có in dòng chữ “AMERICAN EAGLE OUIFITTERS” M/M, đã qua sử dụng;
+ 02 USB, nhãn hiệu DT 101G2, dung lượng 08GB, màu đỏ, đen, xám đã qua sử dụng, đã được niêm phong, giám định và trích xuất qua đĩa DVD, được lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
* Kết luận giám định pháp y về thưg tích số 15/TgT ngày 13/01/2022 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh Kiên Giang kết luận Nguyễn Hữu Quỳnh; Năm sinh: 1982; Giới: Nam; Địa chỉ: Thôn Quỳnh Tân 2, thị trấn Buôn Trấp, huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk, như sau:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Sẹo vùng bả vai trái, lưng phải và cánh tay phải đã được điều trị.
- Gãy xưg bả vai trái, từ ngành ngang dọc xuống góc dưới xưg vai.
2. Tỷ lệ tổn thưg cơ thể do thưg tích gây nên hiện tại là: 18% (Mười tám phần trăm).
3. Vật gây thưg tích: Vật sắc.
* Kết luận giám định pháp y về thưg tích số 26/TgT ngày 17/01/2022 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh Kiên Giang kết luận Uông Sỹ Thiện; Năm sinh: 1982; Giới: Nam; Địa chỉ: Thôn Việt Thắng, xã An Dục, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Nghệ An, như sau:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Sẹo vùng bàn tay phải, cẳng chân phải, bàn chân phải (02 vết) và đùi trái đã được điều trị.
- Đứt gân gấp, dạng ngón I, II bàn tay phải. Hiện tại còn cứng khớp bàn ngón I, II tay phải.
- Gãy xưg đốt bàn ngón I bàn tay phải, đã được phẫu thuật nẹp vis cố định xưg.
- Gãy đầu dưới xưg chày, đã được phẫu thuật xuyên đinh cố định xưg và gãy đầu dưới xưg mác.
- Ngón IV bàn chân phải đã phẫu thuật tạo hình mõm cụt.
- Gãy xưg đốt bàn ngón V chân phải, đã được phẫu thuật xuyên đinh cố định xưg.
- Mẻ vỏ ngoài xưg đùi trái.
2. Tỷ lệ tổn thưg cơ thể do thưg tích gây nên hiện tại là: 49% (Bốn mươi chín phần trăm).
3. Vật gây thưg tích: Vật sắc.
* Kết luận giám định pháp y về thưg tích số 109/TgT ngày 22/02/2022 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh Kiên Giang kết luận Nguyễn Văn Huấn; Năm sinh: 1975; Giới: Nam; Địa chỉ: Khu phố 5, phường Dưg Đông, thành phố Phú Q, tỉnh Kiên Giang, như sau:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Sẹo vùng trán – thái dưg – gò má trái (mặt trái), mặt lưng bàn tay phải tưg ứng xưg bàn ngón I và mặt lưng bàn tay phải (từ cổ tay đến xưg bàn ngón III) đã được điều trị.
- Đứt gân dũi các ngón bàn tay phải. Hiện tại ngón II, bàn tay phải hạn chế chức năng vận động.
- Vỡ đầu trên xưg bàn ngón III tay phải.
2. Tỷ lệ tổn thưg cơ thể do thưg tích gây nên hiện tại là: 21% (Hai mươi mốt phần trăm).
3. Vật gây thưg tích: Vật sắc.
* Kết luận giám định pháp y về thưg tích bổ sung số 355/TgT ngày 15/6/2022 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh Kiên Giang kết luận Nguyễn Văn Huấn; Năm sinh: 1975; Giới: Nam; Địa chỉ: Khu phố 5, phường Dưg Đông, thành phố Phú Q, tỉnh Kiên Giang, như sau:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Sẹo vùng trán – thái dưg – gò má trái (mặt trái), mặt lưng bàn tay phải tưg ứng xưg bàn ngón I và mặt lưng bàn tay phải (từ cổ tay đến xưg bàn ngón III) đã được điều trị.
- Đứt gân dũi các ngón bàn tay phải. Hiện tại ngón II, bàn tay phải hạn chế chức năng vận động.
- Vỡ đầu trên xưg bàn ngón III tay phải.
2. Tỷ lệ tổn thưg cơ thể do thưg tích gây nên hiện tại ở:
- Vùng trán – thái dưg – gò má trái (mặt trái) là: 06% (Sáu phần trăm).
- Mặt lưng bàn tay phải (tưg ứng xưg bàn ngón I) là: 02% (Hai phần trăm).
- Lưng bàn tay phải (từ cổ tay đến xưg bàn ngón III) là: 14% (Mười bốn phần trăm).
* Kết luận giám định pháp y về thưg tích bổ sung số 356/TgT ngày 15/6/2022 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh Kiên Giang kết luận Uông Sỹ Thiện; Năm sinh: 1982; Giới: Nam; Địa chỉ: Thôn Việt Thắng, xã An Dục, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Nghệ An, như sau:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Vết thưg bàn tay phải, đứt gân gấp, dạng ngón I, II, gãy xưg bàn ngón I tay phải, cứng khớp bàn ngón I, II tay phải.
- Vết thưg cẳng chân phải, gãy đầu dưới xưg chày và gãy đầu dưới xưg mác.
- Vết thưg bàn chân phải (tưg ứng ngón II, III).
- Vết thưg bàn chân phải (tưg ứng ngón IV, V), mất ngón IV tạo hình mỏm cụt; gãy xưg bàn ngón V.
- Vết thưg đùi trái mẻ vỏ ngoài xưg đùi.
2. Tỷ lệ tổn thưg cơ thể do thưg tích gây nên hiện tại ở:
- Vùng tay phải là: 23% (Hai mươi ba phần trăm).
- Vùng cẳng chân phải là: 22% (Hai mươi hai phần trăm).
- Vết thưg bàn chân phải (tưg ứng ngón II – III) là: 01% (Một phần trăm).
- Vùng bàn chân phải (tưg ứng ngón IV – V) là: 13% (Mười ba phần trăm).
- Vùng đùi trái là: 03% (Ba phần trăm).
* Kết luận giám định pháp y về thưg tích bổ sung số 357/TgT ngày 15/6/2022 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh Kiên Giang kết luận Nguyễn Hữu Quỳnh; Năm sinh: 1982; Giới: Nam; Địa chỉ: Thôn Quỳnh Tân 2, thị trấn Buôn Trấp, huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk, như sau:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Vết thưg bả vai trái, gãy vỡ xưg bả vai trái, từ ngành ngang xuống góc dưới xưg vai.
- Sẹo phần mềm vùng lưng phải và cánh tay phải.
2. Tỷ lệ tổn thưg cơ thể do thưg tích gây nên hiện tại ở:
- Vùng bả vai trái là: 17% (Mười bảy phần trăm).
- Vùng lưng phải là: 01% (Một phần trăm).
- Vùng cánh tay phải là: 01% (Một phần trăm).
* Kết luận giám định pháp y về thưg tích bổ sung số 279/TgT ngày 16/5/2022 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh Kiên Giang kết luận Nguyễn Văn Huấn; Năm sinh: 1975; Giới: Nam; Địa chỉ: Khu phố 5, phường Dưg Đông, thành phố Phú Q, tỉnh Kiên Giang, như sau: Vật chứng 03 cây dao (dạng rựa quéo) gửi giám định gây ra được các thưg tích trên.
* Kết luận giám định pháp y về thưg tích bổ sung số 280/TgT ngày 16/5/2022 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh Kiên Giang kết luận Uông Sỹ Thiện; Năm sinh: 1982; Giới: Nam; Địa chỉ: Thôn Việt Thắng, xã An Dục, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Nghệ An, như sau: Vật chứng 03 cây dao (dạng rựa quéo) gửi giám định gây ra được các thưg tích trên.
* Kết luận giám định pháp y về thưg tích bổ sung số 281/TgT ngày 16/5/2022 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh Kiên Giang kết luận Nguyễn Hữu Quỳnh; Năm sinh: 1982; Giới: Nam; Địa chỉ: Thôn Quỳnh Tân 2, thị trấn Buôn Trấp, huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk, như sau: Vật chứng 03 cây dao (dạng rựa quéo) gửi giám định gây ra được các thưg tích trên.
* Kết luận giám định số 1862/KL-KTHS của Phân Viện khoa học Hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận như sau: 01 vỏ đạn đã bắn gửi giám định là vỏ đạn cỡ (9x22)mm, thuộc công cụ hỗ trợ, không phải là vũ khí quân dụng, loại đạn cỡ (9x22)mm, thường sử dụng để bắn cho một số loại súng công cụ hỗ trợ cỡ 9mm.
* Kết luận giám định số 398/KL-KTHS ngày 17/5/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận như sau: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong 03 tập tin video được lưu trữ trong 02 (hai) USB gửi giám định. Kèm theo kết luận giám định: 01 đĩa DVD chứa các video gửi giám định.
* Kết luận định giá tài sản số 22/KL-HĐĐGTS ngày 18/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự Ủy ban nhân dân thành phố Phú Q kết luận như sau: Giá trị kính chiếu hậu bên trái của xe ô tô, nhãn hiệu Merceddes Benz, số loại C240, biển kiểm soát 68A – 104.17, tại thời điểm vào ngày 11/12/2021 trị giá là: 11.000.000 đồng.
* Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 117/2022/HS-ST, ngày 16 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Q, tỉnh Kiên Giang đã quyết định:
* Tuyên bố: Các bị cáo Vũ Trung S, Ngô Đức Q phạm tội “Cố ý gây thưg tích”.
- Áp dụng: Điểm c, d khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Vũ Trung S 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 11/3/2022 .
- Áp dụng: Điểm c, d khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Ngô Đức Q 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 11/3/2022.
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo S tiếp tục bồi thường cho bị hại Nguyễn Văn Huấn số tiền 27.709.000 đồng, bồi thường cho bị hại Nguyễn Hữu Quỳnh số tiền 15.298.000 đồng, bồi thường cho bị hại Uông Sỹ Thiện số tiền 46.465.500 đồng. Buộc bị cáo Q tiếp tục bồi thường cho bị hại Nguyễn Văn Huấn số tiền 27.709.000 đồng, bồi thường cho bị hại Nguyễn Hữu Quỳnh số tiền 15.298.000 đồng, bồi thường cho bị hại Uông Sỹ Thiện số tiền 46.465.500 đồng.
Bị hại Huấn, Quỳnh, Thiện mỗi người được nhận số tiền 33.333.000 đồng tiền khắc phục hậu quả theo biên lai thu số 0003078 ngày 26/9/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Q.
Ngày 17/11/2022, các bị cáo Vũ Trung S và Ngô Đức Q có đ kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận Bản án sơ thẩm đã xét xử các bị cáo về tội “Cố ý gây thưg tích” theo điểm c, d khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự là đúng tội và giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét nội dung kháng cáo của bị cáo.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang giữ quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau:
Cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Cố ý gây thưg tích” theo quy định tại điểm c, d khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng quy định của pháp luật. Cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Trung S mức án 07 năm tù và bị cáo Ngô Đức Q 06 năm tù là phù hợp tưg xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm xong các bị cáo đã khắc phục toàn bộ số tiền còn lại cho người bị hại ông Nguyễn Hữu Quỳnh 30.600.000 đồng, ngày 14/02/2023 bị cáo Vũ Trung S khắc phục 30.000.000 đồng theo biên thu tiền số số 0007546 và bị cáo Đức Q khắc phục 30.000.000 đồng theo biên thu tiền số số 0007547 nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phú Q, tỉnh Kiên Giang và đồng thời người bị hại ông Quỳnh cũng có đ xin giảm nhẹ hình phạt cho hai bị cáo đây là tình tiết giảm nhẹ mới được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự mà cấp sơ thẩm chưa áp dụng cho các bị cáo nên có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của các bị cáo; Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án sơ thẩm giảm án cho bị cáo S xuống từ 05 năm tù đến 05 năm 06 tháng tù, giảm cho bị cáo Q xuống từ 04 năm 06 tháng tù đến 05 năm tù.
* Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của đ kháng cáo:
Xét đ kháng cáo của bị cáo về nội dung, quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáo đã đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Về quyết định của Bản án sơ thẩm:
Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 11/12/2021, Hữu điều khiển xe đến quán lẩu dê “Phú Luận”, thuộc ấp Gành Dầu, xã Gành Dầu thì bị cáo S nhìn thấy Nguyễn Văn Huấn, Uông Sỹ Thiện, Nguyễn Hữu Quỳnh, Bùi Gia Nghị, Nguyễn Quang Hiệp và Nguyễn Văn Vượng từ trong quán “Phú Luận” đi ra. Bị cáo S và Tùng cầm dao rựa chém nhiều nhát trúng Nguyễn Văn Huấn vào trán - thái dưg trái, bàn tay phải gây thưg tích. Bị cáo S và Tùng tiếp tục rược chém nhiều nhát trúng Nguyễn Hữu Quỳnh vào vùng bả vai trái, lưng phải và cánh tay phải gây thưg tích. Sau đó, bị cáo S, bị cáo Q và Tùng tiếp tục cầm dao rựa rược chém nhiều nhát trúng Uông Sỹ Thiện vào bàn tay phải, cẳng chân phải, bàn chân phải và đùi trái gây thưg tích. Kết quả Nguyễn Văn Huấn bị thưg tích với tỷ lệ tổn thưg 21%, Uông Sỹ Thiện bị thưg tích với tỷ lệ tổn thưg 49%, Nguyễn Hữu Quỳnh bị thưg tích với tỷ lệ tổn thưg 18%. Do đó, bản án sơ thẩm đã xét xử các bị cáo về tội “Cố ý gây thưg tích” theo điểm c, d khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo S mức án 07 năm tù và bị cáo Q 06 năm tù là có căn cứ, đúng với quy định của pháp luật.
Về yêu cầu kháng cáo của các bị cáo:
Sau khi xét xử sơ thẩm xong, các bị cáo có đ kháng cáo nội dung xin giảm nhẹ hình phạt. Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và khả năng nhận thức được hành vi phạm tội của mình, các bị cáo biết rõ sức khỏe con người là vốn quý được pháp luật bảo vệ và nghiêm cấm xâm hại với mọi hình thức, nhưng các bị cáo đã dùng dao rựa là hung khí nguy hiểm chém các bị hại gây thưg tích. Qua giám định thưg tích ông Nguyễn Văn Huấn bị tỷ lệ tổn thưg 21%, Uông Sỹ Thiện bị tỷ lệ tổn thưg 49%, Nguyễn Hữu Quỳnh bị tỷ lệ tổn thưg 18% . Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, thể hiện ý thức xem thường sức khỏe, tính mạng của người khác và xem thường pháp luật của Nhà nước, gây mất an ninh trật tự tại địa phưg.
Xét đ kháng cáo của các bị cáo: Sau khi xét xử sơ thẩm xong các bị cáo đã tự nguyện khắc phục toàn bộ số tiền còn lại cho bị hại ông Nguyễn Hữu Quỳnh 30.600.000 đồng, ngày 14/02/2023 bị cáo Vũ Trung S khắc phục 30.000.000 đồng theo biên thu tiền số số 0007546 và bị cáo Ngô Đức Q khắc phục 30.000.000 đồng theo biên thu tiền số số 0007547 nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phú Q, tỉnh Kiên Giang. Như vậy bị cáo S, bị cáo Q mỗi bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường cho ông Thiện 31.465.900 đồng, ông Huấn 12.709.000 đồng và đồng thời người bị hại ông Quỳnh cũng có đ xin giảm nhẹ hình phạt cho hai bị cáo đây là tình tiết giảm nhẹ mới được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự mà cấp sơ thẩm chưa áp dụng cho các bị cáo nên Hội đồng xét xử sẽ áp dụng cho các bị cáo. Do các bị cáo có thêm một tình tiết giảm nhẹ mới nên có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của các bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án sơ thẩm giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, thể hiện tính khoan hồng của pháp luật Nhà nước ta, cũng đủ sức răn đe và phòng ngừa chung.
Về quan điểm của Kiểm sát viên: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, sửa bản án sơ thẩm là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q hội. Do yêu cầu kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Việc sửa bản án sơ thẩm số: 117/2022/HSST ngày 16 tháng 11 năm 2022 của Toà án nhân dân thành phố Phú Q, tỉnh Kiên Giang là không có lỗi của cấp sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án sơ thẩm số: 117/2022/HSST ngày 16 tháng 11 năm 2022 của Toà án nhân dân thành phố Phú Q, tỉnh Kiên Giang.
2. Áp dụng: Điểm c, d khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt: Bị cáo Vũ Trung S 05 năm tù về tội “Cố ý gây thưg tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 11/3/2022.
- Áp dụng: Điểm c, d khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt: Bị cáo Ngô Đức Q 04 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thưg tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 11/3/2022.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q hội.
Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Về trách nhiệm dân sự:
Buộc các bị cáo Vũ Trung S và bị cáo Ngô Đức Q mỗi bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường cho ông Uông Sỹ Thiện 31.465.000 đồng và ông Nguyễn Văn Huấn 12.709.000 đồng.
5. Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm số 117/2022/HSST ngày 16 tháng 11 năm 2022 của Toà án nhân dân thành phố Phú Q, tỉnh Kiên Giang không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Vụ giám đốc kiểm tra 1 (1); - VKSND Cấp cao tại Tp. HCM (1); - TAND Cấp cao tại Tp.HCM (1); - VKSND tỉnh KG (1); - Sở Tư pháp tỉnh KG (1); - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh KG (1); - Bị cáo (1); - Cơ quan điều tra TP PQ (1) - VKS TP PQ (1) - Tòa án TP PQ (1) - Thi hành án hình sự TP PQ (1) - Chi cục thi hành án dân sự TP- PQ (1) - Tổ hành chính tư pháp (1); - Lưu hồ sơ (1); - Lưu tòa hình sự (5). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phan Văn Thuấn |