- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trần Thanh P - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2023/HS-PT Ngày: 01-02-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mỹ.
Các Thẩm phán:
Bà Lê Thị Trúc Phương.
Ông Phạm Minh Tùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Giang Châu - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 02 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 270/2022/TLPT-HS ngày 13 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo Trần Thanh P, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 52/2022/HS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Tháp M.
- Bị cáo có kháng cáo:
Trần Thanh P, sinh ngày 16/8/1988 tại Tiền G; Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp An Th, xã An C, huyện Cái B, tỉnh Tiền G; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Thanh H, sinh năm 1950 (còn sống) và con bà Huỳnh Thị H1, sinh năm 1954 (còn sống); Vợ Nguyễn Thị Thúy A, sinh năm 1991; Con có 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Tạm giữ: Không; Tạm giam: Không. Hiện bị cáo đang tại ngoại (Có mặt).
Ngoài ra, trong vụ án còn có đại diện hợp pháp của bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo; Viện kiểm sát không kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ 00 phút, ngày 15-12-2021, bị cáo Trần Thanh P (Có giấy phép lái xe hạng C) điều khiển xe ô tô tải biển số 66C-037.00 lưu thông trên tuyến đường Hồ Chí Minh đi hướng xã Mỹ Q - thị Trấn Mỹ A, huyện Tháp M, tỉnh Đồng Tháp. Khi đến đoạn đường thuộc ấp 5, xã Mỹ Đ, P nhìn thấy chị Dương Thị D điều khiển xe mô tô chạy cùng chiều phía trước cách xe P khoảng 30 mét. Lúc này, P điều khiển xe để vượt qua thì phát hiện có xe ô tô đi ngược chiều nên P đánh lái sang phải để tránh làm xe tải 66C-037.00 va chạm với xe mô tô 66L1-0047. Vụ va chạm làm chị D ngã xuống đường và bị bánh xe tải cán ngang vùng đầu gây tử vong tại chỗ (Bút lục: 01).
Khám nghiệm hiện trường xác định đoạn đường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông đường bộ là đoạn đường được trải thảm bê tông nhựa màu đen, thẳng, bằng phẳng, tầm nhìn không bị che khuất, có đèn đường, rộng 7 mét, gần với cầu Mỹ Đ. Chọn lề đường bên lề phải hướng xã Mỹ Q đi thị trấn Mỹ A làm mép chuẩn:
- Nhận định là vùng va chạm giữa xe tải biển số 66C-037.00 với xe mô tô biển số 66L1-0074 có tâm cách mép chuẩn là 1,20 mét.
- Vị trí xe mô tô tô biển số 661-0047 ngã nằm trên đường sau khi xảy ra tai nạn, tâm trục sau nằm trùng với mép chuẩn theo hướng đi của xe mô tô, tâm trục trước xe mô tô cách mép chuẩn là 0,40 mét và cách tâm đỉnh đầu nạn nhân là 1,70 mét.
- Vị trí nạn nhân sau khi xảy ra tai nạn còn nằm lại trên mặt đường, nạn nhân nằm sấp, đầu nạn nhân bị biến dạng, hướng về Thị Trấn Mỹ A, chân hướng vào xe mô tô biển số 66L1-0047. Tâm đỉnh đầu nạn nhân cách mép chuẩn là 1,25 mét, điểm cuối cùng của chân phải nạn nhân ra mép chuẩn là 0,55 mét, điểm cuối cùng của chân trái nạn nhân ra mép chuẩn là 0,85 mét (Bút lục: 25-56).
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 13/KL-KTHS ngày 04-01-2022 kết luận nguyên nhân tử vong của chị Dương Thị D là do vỡ nát sọ não (Bút lục: 59-69).
Tại bản kết luận giám định số 1087/KL-KTHS và bản kết luận giám định số 1088/KL-KTHS ngày 27-12-2022 kết luận: Mẫu máu chứa ống kim tiêm ghi thu của bị cáo P không phát hiện thành phần cồn (Ethanol) (Bút lục: 66).
Như vậy, từ những căn cứ trên cho thấy, nguyên nhân dẫn đến tai nạn là do bị cáo Trần Thanh P điều khiển xe ô tô tải vượt không đảm bảo an toàn theo quy định tại khoản 2, Điều 14 Luật Giao thông đường bộ.
Trong quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tháp M đã tạm giữ xe ô tô tải biển số 66C-037.00, xe mô tô biển số 66L1-0047, giấy đăng ký xe tên Võ Văn D1, giấy phép lái xe tên Trần Thanh P, giấy chứng nhận bảo hiểm, giấy chứng nhận kiểm định. Nhận thấy việc trả lại tài sản không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tháp M trả lại xe ô tô tải biển số 66C-037.00 cùng các giáy tờ có liên quan cho chủ sở hữu là ông Võ Văn D1; trả xe mô tô biển số 66L1-0047 cho người đại diện hợp pháp của nạn nhân Dương Thị D là ông Dương Văn U (Cha ruột của nạn nhân); trả giáy phép lái xe tên Trần Thanh P cho bị cáo (Bút lục: 21-24).
Về trách nhiệm dân sự, bị cáo P và anh Võ Văn D1 đã tự nguyện bồi thường chi phi mai táng và các khoản chi phí khác theo yêu cầu của gia đình nạn nhân với tổng số tiền 120.000.000 đồng. Phía gia đình nạn nhân không yêu gì thêm (Bút lục: 106-109).
Tại Bản án sơ thẩm số 52/2022/HS-ST ngày 29-8-2022 của Tòa án nhân dân huyện Tháp M đã quyết định:
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Thanh P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Xử phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Trần Thanh P 01 (một) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo Trần Thanh P chấp hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và nêu quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 29 tháng 8 năm 2022, bị cáo Trần Thanh P có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Trần Thanh P thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo khẳng định Bản án sơ thẩm kết án bị cáo tội “Vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ” quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, không oan sai. Tuy nhiên, bị cáo kháng cáo cho rằng hình phạt 01 năm tù mà bản án sơ thẩm đã tuyên là nặng, nên bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo với lý do bị cáo là lao động chính trong gia đình. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vẫn giữ nguyên kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm nhận định hành vi của bị cáo Trần Thanh P bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ” quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường, khắc phục hậu quả và được gia đình bị hại bãi nại không yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo với lý do bị cáo là lao động chính trong gia đình. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo cung cấp đơn xác nhận của chính quyền địa P bị cáo là lao động chính trong gia đình, đơn xác nhận bị cáo có cậu ruột tên Huỳnh Văn S là người có công cách mạng. Xét thấy đây là tình tiết giảm nhẹ mới phát sinh so với xét xử sơ thẩm nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa một phần quyết định của bản án sơ thẩm về phần hình phạt tù đối với bị cáo, giảm cho bị cáo từ 03 (ba) tháng đến 06 (sáu) tháng tù.
Trong phần tranh luận, bị cáo Trần Thanh P không tranh luận. Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt hoặc xin hưởng án treo của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Vào khoảng 21 giờ 00 phút, ngày 15-12-2021, bị cáo Trần Thanh P (Có giấy phép lái xe hạng C) điều khiển xe ô tô tải biển số 66C-037.00 lưu thông trên tuyến đường Hồ Chí Minh đi hướng xã Mỹ Q - thị Trấn Mỹ A, huyện Tháp M, tỉnh Đồng Tháp. Khi đến đoạn đường thuộc ấp 4, xã Mỹ Đ, P nhìn thấy chị Dương Thị D điều khiển xe mô tô chạy cùng chiều phía trước cách xe P khoảng 30 mét. Lúc này, P điều khiển xe để vượt qua thì phát hiện có xe ô tô đi ngược chiều nên P đánh lái sang phải để tránh làm xe tải 66C-037.00 va chạm với xe mô tô 66L1-0047. Vụ va chạm làm chị D ngã xuống đường và bị bánh xe tải cán ngang vùng đầu gây tử vong tại chỗ. Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2022/HS-ST ngày 29-8-2022 của Tòa án nhân dân huyện Tháp M xét xử bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ” quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan, sai.
[2] Xét thấy khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm có xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ như bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường, khắc phục hậu quả và được gia đình bị hại bãi nại không yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự, đây là các tình tiết được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là có cân nhắc tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, từ đó phán quyết mức án 01 (Một) năm tù đối với bị cáo là phù hợp.
[3] Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo với lý do bị cáo là lao động chính trong gia đình. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo cung cấp đơn xác nhận của chính quyền địa P bị cáo là lao động chính trong gia đình, đơn xác nhận bị cáo có cậu ruột tên Huỳnh Văn S là người có công cách mạng. Xét thấy đây là tình tiết giảm nhẹ mới phát sinh so với xét xử sơ thẩm nên Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, sửa quyết định của Bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo.
[4] Xét thấy phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm là có căn cứ chấp nhận.
[5] Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[6] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trần Thanh P.
Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2022/HS-ST ngày 29-8-2022 của Tòa án nhân dân huyện Tháp M về phần hình phạt đối với bị cáo Trần Thanh P.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Thanh P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Trần Thanh P 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm d khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-02-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trần Thanh P không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| - TANDTC- Vụ Giám đốc kiểm tra 1; - Ban Nội chính Tỉnh ủy: - Sở Tư pháp Tỉnh; - VKSND Tỉnh; - Cơ quan THAHS Công an Tỉnh; - TAND huyện Tháp M (02 bản); - VKSND huyện Tháp M; - CCTHADS huyện Tháp M; - CQCSĐT Công an huyện Tháp M; - Bị cáo; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an Tỉnh; - Phòng KTNV-THA.TA Tỉnh; - Lưu: VT, HSVA (H). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Mỹ |