vanban.org

Bản án 16/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mỹ D.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mỹ D được ly hôn với anh Lê Văn T; Giấy chứng nhận kết hôn số 13 ngày 30/01/2020 do UBND xã A, thị xã T, tỉnh An Giang cấp cho chị Nguyễn Thị Mỹ D với anh Lê Văn T không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung giữa D và T"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mỹ D.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TAN CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 16/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 28/3/2023
V/v tranh chấp hôn nhân và gia
đình, ly hôn, nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH ANGIANG.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thế Minh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Thái Trân;

2. Ông Nguyễn Quốc Dũng.

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Minh Cảnh - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 408/2022/TLST-HNGĐ ngày 24/10/2022 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 03/2023/QĐST-HNGĐ ngày 09/3/2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1989; địa chỉ cư trú: Ấp B, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang; có mặt

- Bị đơn: Anh Lê Văn T, sinh năm 1983; địa chỉ cư trú: Ấp B, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 03/10/2022, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị Mỹ D trình bày: Về hôn nhân giữa chị D với anh Lê Văn T do quen biết nhau trước, được cha, mẹ hai bên đồng ý nên hai người tiến tới hôn nhân vào năm 2005. Hai người có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, thị xã T, tỉnh An Giang, theo giấy chứng nhận kết hôn số 13 ngày 30/01/2020. Quá trình sống chung, lúc đầu có hạnh phúc đến năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, sống không hiểu nhau, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xảy ra xung đột, anh T có quan hệ với người phụ nữ khác, vợ chồng không còn sống chung từ tháng 6/2020 cho đến nay. Chị D nhận thấy tình cảm giữa hai vợ chồng không còn, không thể hàn gắn lại, sống không có hạnh phúc. Chị D xin được ly hôn với anh T.

- Về con chung: Chị D với anh Lê Văn T có với nhau 01 đứa con chung tên Lê Hữu T, sinh ngày 06/8/2006 hiện đang sống với chị D. Khi ly hôn chị D yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị D với anh T không có tài sản chung. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị D với anh T không có nợ chung. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Lê Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng anh T vắng mặt không lý do.

Biên bản xác minh ngày 02/02/2023 của ông Lê Phước L là cha ruột anh Lê Văn T cung cấp về tình trạng hôn nhân của chị D và anh T thể hiện: Chị D với anh T kết hôn với nhau vào năm 2005, có đăng ký kết hôn tại UBND xã A. Sau khi cưới nhau chị D và anh T về sống tại nhà ông L và vợ chồng chị D, anh T mua ghe chở lúa gạo đến năm 2018 thì bán ghe và vợ chồng chị D lên tỉnh Bình Dương làm công nhân. Đến năm 2020 thì anh T có quan hệ với người phụ nữ khác và theo sống chung cho đến nay, anh T cắt liên lạc với chị D và gia đình ông L không liên lạc được. ông L tìm cách liên lạc với anh T nhằm la rầy và hàn gắn lại tình cảm giữa chị D với anh T nhưng không được. Theo ông L lỗi là do anh T gây ra, từ đó dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng rất nghiêm trọng, sống không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Tòa án cho chị D ly hôn với anh T là hợp lý. Chị D với anh T có 01 đứa con chung tên Lê Hữu T, sinh năm 2006 đang sống với chị D.

Biên bản xác minh ngày 14/12/2022 Công an xã A cung cấp: Anh Lê Văn T, sinh năm 1983 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp B, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang. Hiện anh Lê Văn T vẫn còn hộ khẩu tại địa chỉ trên.

Toà án tiến hành lập biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản hòa giải nhưng không thực hiện được do anh T vắng mặt.

Hội đồng xét xử công bố biên bản xác minh ngày 02/02/2023 của ông Lê Phước L, biên bản không lấy được lời khai anh T ngày 02/02/2023, biên bản xác minh ngày 14/12/2022 của Công an xã A, thị xã T, tỉnh An Giang.

Tại phiên tòa, chị D giữ nguyên yêu cầu, anh T vắng mặt,

Chị D xác định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho Tòa án, không còn cung cấp thêm chứng cứ nào khác; anh T không cung cấp chứng cứ.

- Ý kiến của Kiểm sát viên:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký trong thời gian chuẩn bị xét xử. Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện đúng, đầy đủ quy định Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Việc tuân thủ pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tại phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định của pháp luật.

Ý kiến về giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị Mỹ D với anh Lê Văn T có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, năm 2020 giữa chị D với anh T có phát sinh mâu thuẫn. Chị D với anh T đã không còn sống chung thời gian dài. Căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị D.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị D với anh T có 01 con chung tên Lê Hữu T, sinh ngày 06/8/2006, hiện đang sống với chị D. Đề nghị giao con tên Lê Hữu T cho chị D nuôi, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: Không có, không đặt ra giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Thẩm quyền: Chị Nguyễn Thị Mỹ D khởi kiện “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” với anh Lê Văn T, sinh năm 1983; địa chỉ cư trú: Ấp B, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang. Xét, quan hệ tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; nguyên đơn đã nộp tạm ứng án phí và Tòa án thụ lý giải quyết.

Biên bản xác minh ngày 14/12/2022 Công an xã A cung cấp: Anh Lê Văn T, sinh năm 1983 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp B, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang. Hiện anh Lê Văn T vẫn còn hộ khẩu tại địa chỉ trên.

Sự vắng mặt của đương sự: Anh Lê Văn T vắng mặt, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mỹ D với anh Lê Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đã đăng ký kết hôn UBND xã A, thị xã T, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số: 13 ngày 30/01/2020. Xét, hôn nhân giữa chị D và anh T là hợp pháp.

Chị D khai, quá trình sống chung, lúc đầu có hạnh phúc đến năm 2020 thì hai xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, sống không hiểu nhau, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xảy ra xung đột, anh T có quan hệ với người phụ nữ khác, vợ chồng không còn sống chung từ tháng 6/2020 đến nay. Chị D nhận thấy tình cảm giữa hai vợ chồng không còn, không thể hàn gắn lại, sống không có hạnh phúc. Chị D xin được ly hôn với anh T.

Biên bản xác minh ngày 02/02/2023 của ông Lê Phước L là cha ruột anh Lê Văn T cung cấp về tình trạng hôn nhân của chị D và anh T thể hiện: Chị D với anh T kết hôn với nhau vào năm 2005, có đăng ký kết hôn tại UBND xã A. Sau khi cưới nhau chị D và anh T về sống tại nhà ông L và vợ chồng chị D, anh T mua ghe chở lúa gạo đến năm 2018 thì bán ghe và vợ chồng chị D lên tỉnh Bình Dương làm công nhân. Đến năm 2020 thì anh T có quan hệ với người phụ nữ khác và theo sống chung cho đến nay, anh T cắt liên lạc với chị D và gia đình ông L không liên lạc được. ông L tìm cách liên lạc với anh T nhằm la rầy và hàn gắn lại tình cảm giữa chị D với anh T nhưng không được. Theo ông L lỗi là do anh T gây ra, từ đó dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng rất nghiêm trọng, sống không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Tòa án cho chị D ly hôn với anh T là hợp lý. Chị D với anh T có 01 đứa con chung tên Lê Hữu T, sinh năm 2006 đang sống với chị D.

Theo khoản 2 Điều 17, Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, “Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp,… và lý do chính đáng khác”;

“Vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau”.

Chị D với anh T có thời gian dài không sống chung, hai người không tự hàn gắn lại được, vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Giữa chị D với anh T đã sống xa cách nhau từ năm 2020 đến nay.

Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xét, chấp nhận yêu cầu của chị D ly hôn đối với anh T.

Về con chung: Chị D với anh T, trong thời kỳ hôn nhân hai người có 01 con chung tên Lê Hữu T, sinh ngày 06/8/2006 đang sống với chị D. Khi ly hôn chị D yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Nguyện Vọng của cháu Lê Hữu T muốn được sống với chị D.

Xét, giao cháu Lê Hữu T, sinh ngày 06/8/2006 cho chị D được tiếp tục nuôi dưỡng. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị D cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh T trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Theo quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị D khai giữa chị với anh T không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, không đặt ra giải quyết. Nếu sau này anh T cho rằng trong thời kỳ hôn nhân giữa anh T với chị D có tài sản, nợ chung mà không tự thỏa thuận được thì anh T vẫn có quyền khởi kiện ra tòa yêu cầu giải quyết trong vụ án khác.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Mỹ D phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chị D được chuyển từ tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0007643 ngày 20/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu;

Anh Lê Văn T không phải chịu tiền án phí hôn nhân.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mỹ D.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mỹ D được ly hôn với anh Lê Văn T;

Giấy chứng nhận kết hôn số 13 ngày 30/01/2020 do UBND xã A, thị xã T, tỉnh An Giang cấp cho chị Nguyễn Thị Mỹ D với anh Lê Văn T không còn giá trị pháp lý.

Về con chung: Giao cháu Lê Hữu T, sinh ngày 06/8/2006 cho chị Nguyễn Thị Mỹ D được tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Lê Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị Nguyễn Thị Mỹ D cùng thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh Lê Văn T trong trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết. Nếu sau này anh Lê Văn T cho rằng trong thời kỳ hôn nhân giữa anh T với chị D có tài sản, nợ chung thì anh T vẫn có quyền khởi kiện chị D ra tòa yêu cầu giải quyết trong vụ án khác

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Mỹ D phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chị D được chuyển từ tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0007643 ngày 20/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu;

Anh Lê Văn T không phải chịu tiền án phí hôn nhân.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án chị Nguyễn Thị Mỹ D có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Thời gian kháng cáo của anh Lê Văn T là 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ