- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Kim Thị Ngọc G.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TRÀ VINH TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2023/HNGĐ-ST Ngày 27-3-2023 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TRÀ VINH, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Khoa.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Cao Minh Sơn;
2. Bà Thạch Thị Mỹ Kim.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Giữ, Thư ký Tòa án nhân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 339/2022/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 11 năm 2022 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Kim Thị Ngọc G, sinh năm 2000 (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt);
Địa chỉ: Khóm B, Phường B, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
2. Bị đơn: Anh Sơn Thành Q, sinh năm 1996 (vắng mặt);
Địa chỉ: Khóm B, Phường T, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện và các lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, chị Kim Thị Ngọc G là nguyên đơn trình bày: Chị Kim Thị Ngọc G và anh Sơn Thành Q xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 2019 và có đăng ký kết hôn vào ngày 13 tháng 5 năm 2019 tại Ủy ban nhân dân Phường B, thành phố T, tỉnh Trà Vinh. Trong quá trình chung sống, anh chị có 01 người con chung tên Sơn Thành T, sinh ngày 01 tháng 6 năm 2020, hiện đang sống với chị G. Anh chị không tạo lập được tài sản chung và không có nợ chung.
Sau khi kết hôn, anh chị thường xuyên cãi nhau và xảy ra mâu thuẫn, không có tiếng nói chung. Hiện tại hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, từ lâu cả hai đã không còn tình cảm, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc.
Nay xét thấy không thể tiếp tục cuộc sống hôn nhân nên chị G yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
Về hôn nhân: Chị Kim Thị Ngọc G yêu cầu ly hôn với anh Sơn Thành Q.
Về con chung: Chị Kim Thị Ngọc G yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Sơn Thành T, sinh ngày 01 tháng 6 năm 2020. Chị G không yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Sơn Thành Q là bị đơn vắng mặt tại phiên tòa. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Q cũng không nộp văn bản trình bày ý kiến cho Tòa án.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để các đương sự có cơ hội đoàn tụ và thống nhất với nhau về việc giải quyết vụ án. Tuy nhiên việc hòa giải không tiến hành được do anh Sơn Thành Q vắng mặt và chị Kim Thị Ngọc G có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải. Vì vậy Tòa án đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa, chị Kim Thị Ngọc G là nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Đối với anh Sơn Thành Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, những người tham gia tố tụng và quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với đương sự đã chấp hành đúng quy định. Riêng bị đơn chưa chấp hành tốt quy định.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Kim Thị Ngọc G được ly hôn với anh Sơn Thành Q.
Về con chung: Chị Kim Thị Ngọc G được quyền nuôi dưỡng con chung tên Sơn Thành T, sinh ngày 01 tháng 6 năm 2020.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Kim Thị Ngọc G không có yêu cầu nên không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không xem xét.
Về án phí: Chị Kim Thị Ngọc G phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về tố tụng: Quan hệ pháp luật của vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Bị đơn cư trú tại Khóm B, Phường T, thành phố T, tỉnh Trà Vinh. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh. Tại phiên tòa, chị Kim Thị Ngọc G vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Đối với anh Sơn Thành Q là bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt cả chị G và anh Q.
Về mặt nội dung: Chị Kim Thị Ngọc G xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 2019. Anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường B, thành phố T, tỉnh Trà Vinh vào ngày 13 tháng 5 năm 2019. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Trong quá trình chung sống, chị G cho rằng có phát sinh mâu thuẫn, cự cãi, không tìm được tiếng nói chung. Hiện tại anh chị đã không còn sống chung với nhau. Đối với anh Sơn Thành Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để hòa giải, xét xử nhưng anh Q đều vắng mặt và cũng không nộp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến đối với các yêu cầu của chị G. Điều đó cho thấy anh Q cũng không có thiện chí muốn hàn gắn quan hệ hôn nhân với chị G, không quan tâm, bỏ mặc mọi hậu quả xảy ra. Xét thấy hôn nhân giữa chị G và anh Q đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của chị G là có căn cứ để chấp nhận.
Về con chung: Chị Kim Thị Ngọc G yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Sơn Thành T, sinh ngày 01 tháng 6 năm 2020. Xét thấy cháu Sơn Thành T đang được chị G nuôi dưỡng, anh Q cũng không có yêu cầu nuôi con chung nên chị G có quyền tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu Sơn Thành T.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Kim Thị Ngọc G không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Kim Thị Ngọc G phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét xử xét thấy ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh là phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án và phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên có căn cứ để chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 5; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ vào các Điều 53, 54, 56, 57, 58 và các Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Kim Thị Ngọc G.
Về hôn nhân: Chị Kim Thị Ngọc G được ly hôn với anh Sơn Thành Q.
Về con chung: Chị Kim Thị Ngọc G được quyền tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Sơn Thành T, sinh ngày 01 tháng 6 năm 2020.
Anh Sơn Thành Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Kim Thị Ngọc G không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Kim Thị Ngọc G phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng theo biên lai thu tiền số 0013311 ngày 22 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh nên chị G không phải nộp thêm.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND Tp Trà Vinh; - Chi cục THADS Tp Trà Vinh; - UBND Phường B; - Đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Anh Khoa |