vanban.org

Bản án 16/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Bà Văn Thị Mỹ L được ly hôn ông Võ Hồng N.

Về con chung: Võ Hoàng Đ (Giới tính: nam), sinh ngày: 17/11/1989; Võ Đình L, sinh ngày: 23/3/1996; Võ An Đ, sinh ngày: 14/01/2004; đã đủ 18 tuổi và có cuộc sống tự lập. Tại Tòa bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét. Về tài sản chung: Bà Văn Thị Mỹ L trình bày vợ c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa bà Văn Thị Mỹ L và ông Võ Hồng N"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Văn Thị Mỹ L được ly hôn ông Võ Hồng N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG
TỈNH SÓC TRĂNG
———————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2023/HNGĐ-ST
Ngày 10-03-2023
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Uyên;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Phước

Ông Hà Văn Châu

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Lịnh là thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên Tòa: Bà Nguyễn Lê Ngọc – Kiểm Sát viên.

Trong ngày 10 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 294/2022/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2022 về việc về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 02 năm 2023, giữa:

- Nguyên đơn: Bà Văn Thị Mỹ L; Địa chỉ: đường A, khóm K, phường L, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Địa chỉ hiện nay: đường số B, Khu dân cư L, khóm D, phường X, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (Có mặt)

- Bị đơn: Ông Võ Hồng N; Địa chỉ: đường A, khóm K, phường L, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện lập ngày 29/11/2022 cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Văn Thị Mỹ L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: bà Văn Thị Mỹ L và ông Võ Hồng N đăng kí kết hôn từ ngày 16/5/1989 tại Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện M, tỉnh Hậu Giang (Nay là tỉnh Sóc Trăng). Do ông Võ Hồng N không có trách nhiệm, không quan tâm đến gia đình, vợ con, chỉ lo nhậu nhẹt nên ông bà đã ly thân từ năm 2020 nhưng vẫn sống chung nhà. Thời gian gần đây ông N đi nhậu về la lối um sùm nên bà Văn Thị Mỹ L mới dọn ra ngoài thuê nhà ở từ ngày 20/11/2022. Nay bà Văn Thị Mỹ L nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Võ Hồng N.

Về con chung: Bà Văn Thị Mỹ L trình bày trong quá trình chung sống ông bà có ba con chung là: Võ Hoàng Đ, sinh ngày: 17/11/1989; Võ Đình L, sinh ngày: 23/3/1996; Võ An Đ, sinh ngày: 14/01/2004. Bà Văn Thị Mỹ L trình bày do các con đã đủ 18 tuổi và có cuộc sống tự lập nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung: Bà Văn Thị Mỹ L trình bày vợ chồng tự thoả thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà Văn Thị Mỹ L trình bày không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn ông Võ Hồng N, sau khi thụ lý vụ án tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án cho ông biết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng ông Võ Hồng N từ chối nhận văn bản của Tòa án, không nêu rõ lý do từ chối nhận. Sau đó, Tòa án đã gửi Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông Võ Hồng N 02 (hai) lần nhưng ông vẫn từ chối nhận văn bản của Tòa án, không nêu rõ lý do và không tham gia.

Ý kiến của kiểm sát viên:

Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên Tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Văn Thị Mỹ L được ly hôn với ông Võ Hồng N; Về con chung là: Võ Hoàng Đ, sinh ngày: 17/11/1989; Võ Đình L, sinh ngày: 23/3/1996; Võ An Đ, sinh ngày: 14/01/2004 hiện nay đã đủ 18 tuổi và có cuộc sống tự lập nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Bà Văn Thị Mỹ L trình bày vợ chồng tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Tòa án không xem xét.

Về nợ chung: Bà Văn Thị Mỹ L trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Tòa án không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Theo đơn khởi kiện thì bà Văn Thị Mỹ L yêu cầu ly hôn với ông Võ Hồng N. Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án hôn nhân gia đình, quan hệ pháp luật để giải quyết là tranh chấp ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa hôm nay bị đơn ông Võ Hồng N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: bà Văn Thị Mỹ L và ông Võ Hồng N đăng kí kết hôn từ ngày 16/5/1989 tại Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện M, tỉnh Hậu Giang (Nay là tỉnh Sóc Trăng), trên cơ sở tự nguyện nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Trong quá trình chung sống, ông bà phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được, nguyên nhân theo bà L trình bày do ông N không có trách nhiệm, không quan tâm đến gia đình, vợ con, chỉ lo nhậu nhẹt. Mặc dù Tòa án ra thông báo về phiên hòa giải cho vợ chồng trở về đoàn tụ nhiều lần nhưng ông N vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được. Tại phiên Tòa hôm nay bà L vẫn cương quyết xin ly hôn với ông Võ Hồng N. Hội đồng xét xử xét thấy, thực trạng mâu thuẫn giữa bà L và ông N đã đến mức trầm trọng, ông bà không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Văn Thị Mỹ L cho bà được ly hôn với ông Võ Hồng N.

Về con chung: Theo bà Văn Thị Mỹ L trình bày, trong quá trình chung sống bà và ông Võ Hồng N có ba con chung là: Võ Hoàng Đ, sinh ngày: 17/11/1989; Võ Đình L, sinh ngày: 23/3/1996; Võ An Đ, sinh ngày: 14/01/2004. Xét thấy hiện nay các con của ông bà đã đủ 18 tuổi và có cuộc sống tự lập, tại Tòa bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Bà Văn Thị Mỹ L trình bày vợ chồng tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Bà Văn Thị Mỹ L trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Án phí ly hôn bà Văn Thị Mỹ L phải chịu số tiền 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 39 của Bộ luật dân sự.

- Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Văn Thị Mỹ L được ly hôn ông Võ Hồng N.

2. Về con chung: Võ Hoàng Đ (Giới tính: nam), sinh ngày: 17/11/1989; Võ Đình L, sinh ngày: 23/3/1996; Võ An Đ, sinh ngày: 14/01/2004; đã đủ 18 tuổi và có cuộc sống tự lập. Tại Tòa bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về tài sản chung: Bà Văn Thị Mỹ L trình bày vợ chồng tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về nợ chung: Bà Văn Thị Mỹ L trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về án phí: Bà Văn Thị Mỹ L phải chịu án phí ly hôn số tiền 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà L đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 00000874 ngày 30/11/2022 của Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Sóc Trăng.

Bà Văn Thị Mỹ L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, ông Võ Hồng N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ