- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị H - Nguyễn Văn P"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H;
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ M | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 16/2023/HNGĐ-ST Ngày: 21/3/2023 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ M- TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Thùy Dương
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Giang và bà Lê Thị Thu Anh
- Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Ngọc Anh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Móng Cái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố M tham gia phiên tòa: ông Vương Hải Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 3 năm 2023. Tại phòng xử án Toà án nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 76/2022/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2022 về “tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số: 11/2023/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1988
Nơi đăng ký thường trú: thôn Q, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương.
Nơi ở hiện tại: thôn B, xã V, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1985
Nơi đăng ký thường trú: thôn Q, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương.
Nơi ở hiện tại: khu 3, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 11/11/2022 và bản tự khai ngày 02/12/2022 nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn P tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau từ năm 2013, đến ngày 08/5/2017 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân là do anh P chơi bời không quan tâm đến gia đình; mặt khác, anh P có hành vi bạo lực chị H cả về thể xác và tinh thần, dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt trầm trọng không thể kéo dài được nữa, chị H và anh P đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Do vậy, chị H thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái giải quyết cho chị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn P.
- Về con chung: chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn P có 02 (hai) con chung là Nguyễn Anh T, sinh ngày 14/8/2014 và Nguyễn Huy H, sinh ngày 08/3/2017. Sau khi ly hôn chị H có nguyện vọng để anh P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung cho đến khi đủ 18 tuổi và chị không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, công nợ chung: chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn P không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị đơn anh Nguyễn Văn P đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần theo đúng quy định của pháp luật nhưng anh P vẫn không có mặt để thể hiện ý kiến của mình về vụ án.
Theo kết quả xác minh tại khu 3, phường H, thành phố M được biết: quá trình sinh sống tại địa phương không thấy chị H và anh P đánh chửi nhau đến mức chính quyền địa phương phải can thiệp hòa giải, tuy nhiên qua nắm bắt thông tin được biết do mâu thuẫn trong vấn đề làm ăn kinh tế, bản thân chị H muốn đi khỏi Móng Cái ra ngoài làm ăn kinh tế nhưng anh P không muốn nên phát sinh mâu thuẫn, chị H đã bỏ đi không sinh sống cùng anh P khoảng gần nửa năm nay. Về con chung chị H và anh P có 02 con chung, hiện nay cháu H đang sinh sống cùng anh P tại khu 3, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh.
Tại phiên tòa hôm nay anh Nguyễn Văn P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do; chị Nguyễn Thị H có đơn xin xử vắng mặt nhưng vẫn giữ nguyên quan điểm như đơn yêu cầu khởi kiện, không bổ sung gì thêm. Các đương sự không có thỏa thuận gì về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng: trong quá trình thụ lý, giải quyết và xét xử đã đảm bảo đầy đủ, đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa nguyên đơn vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không có mặt tại phiên tòa nên không thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định.
- Về việc giải quyết vụ án: căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H; về con chung: giao cháu Nguyễn Anh T và cháu Nguyễn Huy H cho anh Nguyễn Văn P nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi đủ 18 tuổi, chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung, công nợ chung: không có, nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: về quan hệ tranh chấp chị Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con chung khi ly hôn, theo qui định tại khoản 1, Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: bị đơn có đăng ký thường trú tại thôn Q, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương; nơi ở hiện tại: khu 3, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh theo qui định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái.
Về sự vắng mặt của đương sự, bị đơn anh Nguyễn Văn P đã được Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái tống đạt văn bản tố tụng, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa theo qui định của pháp luật nhưng anh P vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Chị Nguyễn Thị H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử, xử vắng mặt chị H và anh P theo qui định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn chị Nguyễn Thị H và bị đơn anh Nguyễn Văn P kết hôn tuân thủ các điều kiện kết hôn và thủ tục kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, do đó quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh P là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Hội đồng xét xử nhận thấy vợ chồng chị H, anh P trong quá trình chung sống có nhiều mâu thuẫn xảy ra; nguyên nhân là do anh P chơi bời không quan tâm đến gia đình từ đó mâu thuẫn vợ chồng ngày càng rạn nứt trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài mục đích hôn nhân không đạt được chị H và anh P đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay, cắt đứt quan hệ với nhau. Anh P đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần để giải quyết việc chị H xin ly hôn nhưng vẫn cố tình vắng mặt không lý do, như vậy thể hiện anh P không có nguyện vọng và biện pháp hòa giải để vợ chồng đoàn tụ. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H là có căn cứ phù hợp qui định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên chấp nhận.
Về con chung: chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn P có 02 (hai) con chung là Nguyễn Anh T, sinh ngày 14/8/2014 và Nguyễn Huy H, sinh ngày 08/3/2017. Hiện nay cháu H đang ở cùng với anh P tại khu 3, phường H, thành phố M; còn cháu T đang ở cùng ông bà nội tại thôn Q, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương được nuôi dưỡng, chăm sóc phát triển tốt cả về thể chất lẫn tinh thần; mặt khác, còn phù hợp với nguyện vọng của cháu T; ngoài ra, chị H có nguyện vọng sau khi ly hôn sẽ đi làm ăn xa và chị H cũng đồng ý để anh P chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung. Vì vậy, giao cháu Nguyễn Anh T, cháu Nguyễn Huy H cho anh P trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là hợp tình, hợp lý và phù hợp quy định tại Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con chung anh Nguyễn Văn P trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa đều vắng mặt nên không thể hiện được quan điểm của mình về việc cấp dưỡng nuôi con chung. Vì vậy, anh P có quyền yêu cầu về việc cấp dưỡng nuôi con chung bằng một vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.
Chị Nguyễn Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung, công nợ chung không có, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: chị Nguyễn Thị H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H;
1. Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn P.
2. Về con chung: giao con chung Nguyễn Anh T, sinh ngày 14/8/2014 và Nguyễn Huy H, sinh ngày 08/3/2017 cho anh Nguyễn Văn P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị Nguyễn Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí: chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: 0007667, ngày 21 tháng 11 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái; chị Hồng đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND thành phố Móng Cái; - TAND tỉnh Quảng Ninh; - UBND xã Q, huyện Đ; - Lưu HS vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Nguyễn Thùy Dương |