vanban.org

Bản án 16/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Thái P ly hôn chị Hoàng Thị D.

Về con chung: Giao cháu Phạm Hoàng Xuân Đ, sinh ngày 24/12/2007 và Phạm Hoàng Bích Đ1, sinh ngày 14/5/2016 cho anh Phạm Thái P trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Về cấp dưỡng nuôi con: anh P không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "PHAM THAI P- HOANG THI D"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Thái P ly hôn chị Hoàng Thị D.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN LỘC
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2023/HNGĐ-ST
Ngày 06-03-2023
V/v: Ly hôn và tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Lƣơng Khoa.

Bà Linh Thị Ngọc Thạch.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Văn Thiêm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phƣơng Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 06/03/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 727/2023/TLST-HNGĐ ngày 29/11/2022 về ly hôn và tranh chấp nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30/01/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2023/QĐST-HNGĐ ngày 17/02/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Phạm Thái P, sinh năm 1975 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Khu phố 2, thị trấn Gia Ray, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Chị Hoàng Thị D, sinh năm 1980 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Khu phố 2, thị trấn Gia Ray, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 25/5/2022, trong quá trình làm việc, nguyên đơn anh Phạm Thái P trình bày: Vào năm 2006, anh và chị Hoàng Thị D tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã Nghi Trung, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, anh chị sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp, quan điểm sống bất đồng, mâu thuẫn về chuyện tiền bạc, tình cảm nên vợ chồng hay cãi nhau. Anh chị không còn chung sống với nhau từ tháng 10 năm 2018 cho đến nay. Nhận thấy không còn tình cảm với chị D nên anh yêu cầu được ly hôn.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung tên là Phạm Hoàng Xuân Đ, sinh ngày 24/12/2007 và Phạm Hoàng Bích Đ1, sinh ngày 14/5/2016. Hiện nay cháu Đồng và cháu Đào đang sống cùng với anh P. Sau khi ly hôn, anh yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

* Trong quá trình làm việc bị đơn chị Hoàng Thị D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, vì vậy không có lời trình bày.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc:

Từ khi thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân theo đúng quy định pháp luật về tố tụng. Nguyên đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng, bị đơn không chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh P, anh P được ly hôn với chị D; Về con chung: giao con chung cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động; anh P không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết; tài sản chung và nợ chung: Không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Anh Phạm Thái P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị Hoàng Thị D đã được triệu tập tham gia phiên tòa đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, tiến hành xét xử vắng mặt anh P, chị D là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về tư cách tham gia tố tụng: Anh Phạm Thái P có đơn khởi kiện ly hôn với chị Hoàng Thị D, do đó xác định anh P là nguyên đơn, chị D là bị đơn theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 68 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Thái P và chị Hoàng Thị D tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau năm 2006 tại Ủy ban nhân dân xã Nghi Trung, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, do đó quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

“Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.

Xét yêu cầu của nguyên đơn nhận thấy: Anh P cho rằng, nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn về tiền bạc, tình cảm nên vợ chồng hay cãi nhau. Anh chị đã nhiều lần hòa giải nhưng không có kết quả, anh chị không còn sống chung với nhau từ tháng 10 năm 2018 đến nay. Hiện nay anh chị không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Do đó anh yêu cầu ly hôn.

Chị D đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần để làm việc, cũng như hòa giải, chị D biết việc ly hôn nhưng vẫn vắng mặt không lý do, cho thấy chị D không có thiện chí trong việc hòa giải đoàn tụ vợ chồng. Hơn nữa, địa phương nơi cư trú cũng xác nhận chị D và anh P đã không còn sống chung với nhau hơn 04 năm nay.

Như vậy, chứng tỏ trong cuộc sống hôn nhân giữa anh P và chị D đã xảy ra mâu thuẫn. Hiện nay, anh chị bỏ mặc không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, không còn thực hiện quyền, nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định pháp luật, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Phạm Thái P là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Anh P yêu cầu nuôi 02 con chung khi ly hôn, chị D vắng mặt không có lời khai, nên không thể hiện nguyện vọng về con chung. Xét thấy, từ khi anh P, chị D không sống chung với nhau cho đến nay thì anh P là người trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, việc nuôi con chung của anh P là đảm bảo. Vì vậy, cần thiết giao con chung cho anh P tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình và nguyện vọng của con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh P không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con nên không xét, chị D vắng mặt nên không có lời trình bày, nên không giải quyết.

Về tài sản chung: Anh P trình bày không có, chị D không có lời khai, nên không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Anh P trình bày không có, chị D không có lời khai, nên không giải quyết.

Về án phí: Anh Phạm Thái P phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận .

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 28, 35, 39, 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 9, 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 131, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về Án phí và Lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Thái P ly hôn chị Hoàng Thị D.

2. Về con chung: Giao cháu Phạm Hoàng Xuân Đ, sinh ngày 24/12/2007 và Phạm Hoàng Bích Đ1, sinh ngày 14/5/2016 cho anh Phạm Thái P trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Về cấp dưỡng nuôi con: anh P không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết.

Chị D được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không giải quyết.

4. Về án phí: Anh Phạm Thái P phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0007042 ngày 24/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc được chuyển thành án phí.

Anh Phạm Thái P, chị Hoàng Thị D được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ