vanban.org

Bản án 16/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Hoàng Thị M được ly hôn anh Hoàng Văn L.

Về con chung: Có 02 con chung tên là Hoàng Quang V, sinh ngày 09/02/2004 và Hoàng Gia K, sinh ngày 17/5/2023. Hiện nay cháu Hoàng Quang V đã thành niên, đủ sức khỏe lao động nuôi sống bản thân nên không xem xét giải quyết. Giao cháu Hoàng Gia K sinh ngày 17/5/2023 cho chị Hoàng Thị M trực tiếp trông… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án Hôn nhân gia đình Hoàng Thị M - Hoàng Văn L"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Hoàng Thị M được ly hôn anh Hoàng Văn L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN QUAN
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 22-11-2023
V/v Tranh chấp Ly hôn,
nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN QUAN, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hường

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Văn Mừng

Bà Hoàng Hương Liễu

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thùy Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 53/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp Ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị M, sinh năm 1986. Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Hoàng Văn L, sinh năm 1979. Nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 11/9/2023, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Hoàng Thị M trình bày:

Chị Hoàng Thị M và anh Hoàng Văn L quen biết, tìm hiểu, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới từ tháng 01/2003, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn vào ngày 12/01/2003. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống cùng với gia đình nhà anh Hoàng Văn L tại Thôn B, xã T, huyện V, đến năm 2014 chị Hoàng Thị M đi làm công ty DREAMTECH tại tỉnh Bắc Ninh, tình cảm vợ chồng vẫn bình thường. Từ năm 2019 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do anh Hoàng Văn L hay uống rượu say, ghen tuông chửi chị Hoàng Thị M và gia đình vợ nên chị Hoàng Thị M đi làm không dám về nhà. Tháng 10/2022 chị Hoàng Thị M mang thai con thứ hai thì mâu thuẫn vợ chồng càng trầm trọng. Tháng 5/2023 khi chị Hoàng Thị M sinh con thì anh Hoàng Văn L không còn quan tâm đến vợ con, cứ say rượu lại đánh đuổi vợ nên từ tháng 7/2023 chị Hoàng Thị M đã đưa con về nhà mẹ đẻ sinh sống. Vợ chồng sống ly thân và không còn quan tâm đến nhau nữa. Xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị Hoàng Thị M yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn anh Hoàng Văn L.

Về con chung: Có 02 con chung tên là Hoàng Quang V, sinh ngày 09/02/2004 và Hoàng Gia K, sinh ngày 17/5/2023. Khi ly hôn chị Hoàng Thị M yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cháu Hoàng Gia K đến khi con đủ 18 tuổi, không yêu cầu anh Hoàng Văn L cấp dưỡng nuôi con. Cháu Hoàng Quang V đã thành niên, đủ sức khỏe lao động nuôi sống bản thân nên chị Hoàng Thị M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, vay nợ chung: Không có

Tại biên bản lấy lời khai ngày 27/10/2023 bị đơn anh Hoàng Văn L trình bày: Anh Hoàng Văn L và chị Hoàng Thị M quen biết và yêu nhau đến năm 2003 thì được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương; đăng ký kết hôn ngày 12/01/2003 tại UBND xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống cùng gia đình chồng ở Thôn B, xã T, huyện V đến năm 2013 thì ra ở riêng, không có mâu thuẫn, cãi cọ gì cả. Từ năm 2023 thì vợ chồng mới xảy ra mâu thuẫn, có lần anh Hoàng Văn L đi uống rượu về thì chị Hoàng Thị M đánh anh Hoàng Văn L nên anh Hoàng Văn L có tát chị Hoàng Thị M 2 cái rồi chị Hoàng Thị M bỏ về bên ngoại sống đến nay. Anh Hoàng Văn L xác định tình cảm vợ chồng không còn nên nhất trí ly hôn với chị Hoàng Thị M.

Về con chung: Có 02 con chung là Hoàng Quang V, sinh ngày 09/02/2004 và Hoàng Gia K, sinh ngày 17/5/2023. Anh Hoàng Văn L nhất trí để chị Hoàng Thị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Hoàng Gia K đến khi con đủ 18 tuổi, anh Hoàng Văn L không cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu Hoàng Quang V đã thành niên, đủ sức khỏe lao động nuôi sống bản thân nên anh Hoàng Văn L không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, vay nợ chung: Không có

Tòa án nhân dân huyện Văn Quan đã xác minh tình trạng hôn nhân của đương sự. Tại Công văn số 94/CV-UBND ngày 17/10/2023, UBND xã T, huyện V cung cấp thông tin: chị Hoàng Thị M và anh Hoàng Văn L đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn ngày 12/01/2003. Sau khi kết hôn chị Hoàng Thị M và anh Hoàng Văn L chung sống với nhau ở Thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Cuộc sống vợ chồng không có mâu thuẫn gì. Hai vợ chồng có 02 con chung là Hoàng Quang V, sinh ngày 09/02/2004 và Hoàng Gia K, sinh ngày 17/5/2023 hiện nay cháu Hoàng Quang V đang sống cùng anh Hoàng Văn L ở Thôn B, xã T, huyện V, có đủ sức khỏe tự nuôi sống bản thân, cháu Hoàng Gia K sống cùng chị Hoàng Thị M tại thôn N, xã T, huyện V, không bị ngược đãi gì.

Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 01/11/2023 để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, tuy nhiên anh Hoàng Văn L vắng mặt, chị Hoàng Thị M có đơn đề nghị Toà án không tiến hành hòa giải vụ án nên Tòa án chỉ tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi xét xử, Thẩm phán đã tiến hành tố tụng đúng trình tự thủ tục, hướng dẫn đương sự viết tự khai, lấy lời khai đương sự, tiến hành xác minh thu thập chứng cứ, tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng quy định. Quá trình tiến hành tố tụng tại phiên tòa Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án thực hiện đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt, đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụng.

Về quan điểm giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Hoàng Thị M, xử cho chị Hoàng Thị M được ly hôn anh Hoàng Văn L. Về con chung, giao cháu Hoàng Gia K, sinh ngày 17/5/2023 cho chị Hoàng Thị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi. Anh Hoàng Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Hoàng Thị M không yêu cầu. Còn cháu Hoàng Quang V đã thành niên, đủ sức khỏe lao động nuôi sống bản thân nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung do đương sự trình bày không có nên không giải quyết. Về án phí, buộc chị Hoàng Thị M phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi con chung, bị đơn có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn B, xã T, huyện V nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng đều có đơn xin giải quyết xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt tất cả các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân, xét thấy chị Hoàng Thị M và anh Hoàng Văn L có quen biết, yêu nhau, tự nguyện kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn ngày 12/01/2003 tại UBND xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn từ năm 2019 đến nay do anh Hoàng Văn L hay uống rượu say, ghen tuông chửi bới vợ, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 7 năm 2023 cho đến nay không còn quan tâm đến nhau nữa. Chị Hoàng Thị M yêu cầu ly hôn, anh Hoàng Văn L xác định tình cảm vợ chồng không còn, nhất trí ly hôn. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy rằng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Hoàng Thị M và anh Hoàng Văn L đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Hoàng Thị M.

Về con chung: Chị Hoàng Thị M và anh Hoàng Văn L có 02 con chung tên là Hoàng Quang V, sinh ngày 09/02/2004 và Hoàng Gia K, sinh ngày 17/5/2023. Hiện nay cháu Hoàng Quang V đã thành niên, đủ sức khỏe lao động nuôi sống bản thân nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Đối với cháu Hoàng Gia K, sinh ngày 17/5/2023, chưa đủ 36 tháng tuổi, khi ly hôn Hoàng Thị M có nguyện vọng nuôi dưỡng cháu Hoàng Gia K và không yêu cầu anh Hoàng Văn L cấp dưỡng nuôi con, anh Hoàng Văn L nhất trí. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của đương sự, giao cháu Hoàng Gia K cho chị Hoàng Thị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở. Khi cần thiết hai bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, chị Hoàng Thị M không yêu cầu anh Hoàng Văn L cấp dưỡng nuôi con chung và anh Hoàng Văn L cũng đồng ý. Vì vậy, anh Hoàng Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Khi cần thiết hai bên đương sự có quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

Về tài sản chung, vay nợ chung: Không có.

Về án phí: Chị Hoàng Thị M là nguyên đơn có yêu cầu ly hôn, không yêu cầu miễn án phí nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; các Điều 238, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Hoàng Thị M được ly hôn anh Hoàng Văn L.

2. Về con chung: Có 02 con chung tên là Hoàng Quang V, sinh ngày 09/02/2004 và Hoàng Gia K, sinh ngày 17/5/2023. Hiện nay cháu Hoàng Quang V đã thành niên, đủ sức khỏe lao động nuôi sống bản thân nên không xem xét giải quyết. Giao cháu Hoàng Gia K sinh ngày 17/5/2023 cho chị Hoàng Thị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con đủ 18 tuổi. Anh Hoàng Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền và nghĩa vụ đi lại, thăm nom con chung không ai được cản trở. Khi cần thiết, hai bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung, vay nợ chung: Không có.

4. Về án phí: Chị Hoàng Thị M phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước. Xác nhận chị Hoàng Thị M đã nộp đủ số tiền nêu trên tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0006179 ngày 09 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ