- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "La Thị H - Lò Văn X"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị La Thị H được ly hôn với anh Lò Văn X.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TAND HUYỆN TU TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2023/HNGĐ-ST Ngày 29-6-2023 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TU, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Tuyết Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vương Huy Vượng; Ông Trịnh Đình Hòa
- Thư ký phiên toà: Ông Giang Tiến Hiệp -Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TU, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 6 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện TU, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 73/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 4 năm 2023 về việc “ Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:
1. NgU đơn: Chị La Thị H, sinh năm 1997; Nơi cư trú: Bản N, xã M, huyện TU, tỉnh Lai Châu. Có mặt tại phiên tòa.
2. Bị đơn: Anh Lò Văn X, sinh năm 1994; Nơi cư trú: Bản N, xã M, huyện TU, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” cùng các lời khai có trong hồ sơ và tại phiên tòa ngU đơn chị La Thị H trình bày:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lò Văn X về chung sống với nhau từ năm 2015 nhưng đến ngày 06/5/2016 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện TU, tỉnh Lai Châu trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc. Từ khi về chung sống chị và anh Xanh hạnh phúc, đến khoảng năm 2018 thì anh Xanh nghiện ma túy, đã bán các đồ dùng như tivi, tủ lạnh...phá tán hết tài sản của gia đình. Chị cùng gia đình hai bên đã nhiều lần động viên, khU bảo nhưng anh Xanh không thay đổi. Từ đó, giữa chị và anh Xanh thường xU xảy ra mâu thuẫn và cãi nhau. Đến tháng 5 năm 2022 chị về nhà bố mẹ đẻ để sinh sống tại bản Mường, xã M và sống ly thân với anh Xanh từ đó cho đến nay. Chị xác định không còn tình cảm với anh Xanh, hôn nhân không hạnh phúc nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Xanh.
2. Về con chung: Chị và anh Xanh có 03 con chung là Lò Minh K, sinh ngày 09/3/2016 và Lò Thu U, sinh ngày 10/5/2019 và Lò Thu QU, sinh ngày 10/5/2019. Sau khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi các con và không yêu cầu anh Xanh phải cấp dưỡng với lý do anh Xanh nghiện ma túy, thường xU không có mặt ở nhà nên không thể có điều kiện nuôi dạy các con.
3. Về chia tài sản: Tài sản chung, nợ chung, cho vay chung chị H không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Sau khi thụ lý vụ án, anh Lò Văn X mặc dù biết chị H có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn và đã được Tòa án triệu tập, thông báo hợp lệ đến Tòa để làm việc nhưng cố tình vắng mặt mà không có lý do.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TU, tỉnh Lai Châu phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền thụ lý vụ án; thụ lý đơn yêu cầu ly hôn; việc xác định quan hệ tranh chấp và tư cách của đương sự trong vụ án; việc ra và gửi thông báo thụ lý cũng như Quyết định đưa vụ án ra xét xử cùng hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát đúng thời hạn quy định. Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và Thư ký: Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: NgU đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn cố tình vắng mặt tại phiên tòa không có lý do là vi phạm về quyền, nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, 35, 39, Điều 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị La Thị H và xem xét quyết định: Chị H được ly hôn với anh Xanh; giao 03 con chung cho chị H là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi; không giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung và chia tài sản chung do chị H không yêu cầu; về án phí: ngU đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Anh Lò Văn X có nơi cư trú tại bản N, xã M, huyện TU, tỉnh Lai Châu. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện TU, tỉnh Lai Châu. Anh Xanh đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng cố tình vắng mặt không có lý do. Chị H có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải nên căn cứ khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án không tiến hành hòa giải và Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung. Ngày 09/6/2023, Tòa án nhân dân huyện TU đã tiến hành mở phiên tòa lần thứ nhất, mặc dù được triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa hôm nay, anh Xanh tiếp tục vắng mặt không có lý do nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị La Thị H và anh Lò Văn X về chung sống với nhau từ năm 2015 nhưng đến ngày 06/5/2016 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện TU, tỉnh Lai Châu. Việc kết hôn giữa chị H và anh Xanh hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc. Do vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh Xanh là hợp pháp. Quá trình chung sống chị H và anh Xanh hạnh phúc được khoảng 03 năm, sau đó phát sinh mâu thuẫn do anh Xanh là người nghiện ma túy, không chịu làm ăn, chăm lo cuộc sống gia đình, thường xU không có mặt ở nhà. Anh Xanh biết việc chị H xin ly hôn nhưng cố tình không đến Tòa án để làm các thủ tục ly hôn với chị H. Vì vậy, thấy rằng khoảng thời gian mâu thuẫn giữa chị H và anh Xanh cũng đã kéo dài, chị H đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ từ năm 2022 và đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Anh chị đã không còn dành sự quan tâm, yêu thương, chăm sóc lẫn nhau, chị H không còn tình cảm yêu thương đối với anh Xanh, anh Xanh cố tình trốn tránh việc đến Tòa để làm các thủ tục ly hôn đã thể hiện anh Xanh cũng không muốn hàn gắn tình cảm với chị H. Hội đồng xét xử nhận thấy hôn nhân giữa chị H và anh Xanh đã thực sự lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu khởi kiện của chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Xanh là hoàn toàn có căn cứ theo quy định tại Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Các con chung hiện nay đang ở cùng chị H và bố mẹ chị H tại bản Mường, xã M. Việc chăm sóc các con chung có sự hỗ trợ của bố mẹ chị H. Chị H có nguyện vọng được nuôi các con sau khi ly hôn và không yêu cầu anh Xanh phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con. Con chung Lò Minh K, sinh ngày 09/3/2016 đã trên 07 tuổi và có nguyện vọng ở với mẹ; các con Lò Thu U, sinh ngày 10/5/2019 và Lò Thu QU, sinh ngày 10/5/2019 đều còn rất nhỏ cần được sự chăm sóc của mẹ. Hơn nữa, anh Xanh là người nghiện ma túy và không thường xU có mặt ở địa phương nên cần thiết phải giao các con chung cho chị H là người trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H không yêu cầu anh Xanh phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về chia tài sản chung: Chị La Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị La Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Quan điểm giải quyết vụ án của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TU tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị La Thị H được ly hôn với anh Lò Văn X.
2. Về con chung: Giao con chung Lò Minh K, sinh ngày 09/3/2016 và Lò Thu U, sinh ngày 10/5/2019 và Lò Thu QU, sinh ngày 10/5/2019 cho chị La Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành, đủ 18 tuổi.
Anh Lò Văn X có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị La Thị H không yêu cầu anh Lò Văn X phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về chia tài sản chung: Chị La Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về án phí: Chị La Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận chị H đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số AA/2021/0001474 ngày 20/4/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện TU, tỉnh Lai Châu nay chuyển thành án phí.
6. Về quyền kháng cáo: NgU đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tU án; bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết lên Tòa án nhân dân cấp trên.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND huyện TU; - Chi cục THADS huyện TU; - UBND xã M, huyện TU; - NgU đơn; - Bị đơn; - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HĐXX THÀNH VIÊN HĐXX | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Tuyết Thanh THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |