vanban.org

Bản án 16/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lương Ngọc Minh N

Về quan hệ hôn nhân: Cho nguyên đơn ông Lương Ngọc Minh N được ly hôn với bị đơn bà Châu Diễm H. Về nuôi con chung: Giao con chung Lương Ngọc Minh T, sinh ngày 12/5/2018 cho bị đơn bà Châu Diễm H nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lương Ngọc Minh N
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MANG THÍT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 16/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 07/4/2023
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con,
cấp dưỡng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Bích

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Phẩm

2. Ông Nguyễn Đinh Cường

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Liên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc H – Kiểm sát viên

Ngày 07 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 323/2022/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con, cấp dưỡng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Lương Ngọc Minh N, sinh năm 1996 (xin vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ 8, ấp Thành KH, thị trấn TQ, huyện BT, tỉnh Vĩnh Long.

2. Bị đơn: Bà Châu Diễm H, sinh năm 1995 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp PQ, xã NP, huyện MT, tỉnh Vĩnh Long

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 08/8/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Lương Ngọc Minh N trình bày:

Vào năm 2017 ông Lương Ngọc Minh N và bà Châu Diễm H qua mai mốt tiến tới hôn nhân có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Thành Đông, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long; theo giấy chứng nhận kết hôn số 43, ngày 28/11/2017. Vợ chồng chung sống có 01 con chung tên Lương Ngọc Minh T, sinh ngày 12/5/2018, hiện đang sống chung với bà H.

Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau dẫn đến thường xuyên gây cãi, mâu thuẫn ngày trầm trọng kéo dài không khắc phục được nên bà H dẫn theo con chung Lương Ngọc Minh T về nhà cha mẹ ruột tại ấp Phú Quới, xã Nhơn Phú, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long sinh sống và ly thân kể từ đó cho đến nay không có đoàn tụ trở lại.

Nay ông N cảm thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn lại được nên yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Lương Ngọc Minh N yêu cầu được ly hôn với bà Châu Diễm H.

- Về con chung: Ông N tự nguyện giao con chung Lương Ngọc Minh T, sinh ngày 12/5/2018 cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng. Ông N tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung Lương Ngọc Minh T mỗi tháng là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) cho đến khi con chung Lương Ngọc Minh T đủ 18 tuổi.

- Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông Lương Ngọc Minh N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Sau khi thụ lý vụ án Toà án đã thông báo cho bị đơn bà Châu Diễm H biết việc thụ lý vụ án cũng như các yêu cầu của ông N. Nhưng bà H không có văn bản trả lời và vắng mặt tại tất cả các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, đồng thời đều vắng mặt tại các phiên tòa mặc dù đã được tống đạt triệu tập hợp lệ. Do đó, Tòa án không tiến hành ghi lời khai của bị đơn và hòa giải cho các đương sự được.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành của những người tham gia tố tụng: Đối với các đương sự từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

+ Về quan hệ hôn nhân: Cho nguyên đơn ông Lương Ngọc Minh N được ly hôn với bị đơn bà Châu Diễm H.

+ Về nuôi con chung: Giao con chung Lương Ngọc Minh T, sinh ngày 12/5/2018 cho bị đơn Châu Diễm H nuôi dưỡng.

+ Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn: Nguyên đơn ông Lương Ngọc Minh N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung tên Lương Ngọc Minh T mỗi tháng là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng tính từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung Lương Ngọc Minh T đủ 18 tuổi.

+ Về án phí: Nguyên đơn phải chịu tiền án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) và tiền án phí cấp dưỡng là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; bị đơn có nơi cư trú tại xã Nhơn Phú, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; quá trình tiến hành tố tụng xét xử vụ án, mặc dù đã được triệu tập tống đạt hợp lệ nhưng bị đơn đều vắng mặt không lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Xét, giữa ông N và bà H chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thành Đông, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa ông N và bà H là hợp pháp. Ông N cho rằng thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc thì đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình hai người không hợp dẫn đến bất đồng quan điểm sống. Từ đó mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không khắc phục được nên bà H dẫn con về nhà cha mẹ ruột tại ấp Phú Quới, xã Nhơn Phú, huyện Mang Thít sinh sống và ly thân với ông N từ đó cho đến nay, không có đoàn tụ trở lại. Tòa án cũng đã tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng bà H đều vắng mặt không có lý do, bà H không đến phiên tòa, thể hiện bà H đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ của mình. Điều này cũng chứng tỏ tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ là không có, tình trạng hôn nhân giữa ông N và bà H đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, xét việc ông N yêu cầu được ly hôn với bà H là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại các Điều 9, 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nuôi con chung: Ông N tự nguyện giao con chung tên Lương Ngọc Minh T, sinh ngày 12/5/2018 cho bị đơn Châu Diễm H nuôi dưỡng; xét cháu T hiện do bà H nuôi dưỡng. Do đó, giao con chung tên Lương Ngọc Minh T cho bà H nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông N tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung Lương Ngọc Minh T mỗi tháng là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi, sự tự nguyện của ông N là phù hợp theo quy định tại các Điều 107, 110, 116, 117 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, do đó Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của ông N.

Về quyền, nghĩa vụ về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xét.

Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát huyện Mang Thít là có căn cứ chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu tiền án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) và tiền án phí cấp dưỡng là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ vào các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83, 107, 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 24, điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lương Ngọc Minh N

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho nguyên đơn ông Lương Ngọc Minh N được ly hôn với bị đơn bà Châu Diễm H.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung Lương Ngọc Minh T, sinh ngày 12/5/2018 cho bị đơn bà Châu Diễm H nuôi dưỡng.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn: Nguyên đơn ông Lương Ngọc Minh N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung tên Lương Ngọc Minh T, sinh ngày 12/5/2018 mỗi tháng là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng tính từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung tên Lương Ngọc Minh T đủ 18 tuổi.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

4. Về quyền, nghĩa vụ về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không giải quyết.

5. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) và 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con, số tiền này được khấu trừ từ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít theo lai thu số: 0007434 ngày 01/11/2022. Nguyên đơn phải nộp thêm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo là mười lăm ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ