vanban.org

Bản án 16/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/UBTVQH 12 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Cao Thị Huyền T. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Cao Thị Huyền T được ly hôn với anh Phạm Văn Th. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Cao Thị Huyền T yêu cầu ly hôn với anh Phạm Văn Th"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/UBTVQH 12 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG BÚK
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 20/9/2023
V/v: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÚK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Tín.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Y Mưng Niê;

2. Ông Nguyễn Ngọc Thọ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đăk Lăk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk tham gia phiên tòa: Ông Y Đum Kpă - Kiểm sát viên.

Ngày 20/9/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đăk Lăk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 76/2023/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2023 về “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/8/2022 và Quyết định hoãn phiên toà số 06/2023/QĐST-HNGĐ ngày 08/9/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Cao Thị Huyền T, sinh năm 2000. Có mặt.

Địa chỉ: Thôn 6, xã C, huyện Kk, tỉnh Đắk Lắk.

- Bị đơn: Anh Phạm Văn Th, sinh năm 1997. Có mặt.

Địa chỉ: Thôn 6, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG V ÁN:

Theo đơn khởi kiện cũng như tại phiên toà nguyên đơn ch Cao Th Huyền T t nh bày: Tôi và anh Th tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện K vào ngày 02/8/2018. Và chung sống được một thời gian thì đến khoảng đầu năm 2023 phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, lời qua tiếng lại, chồng tôi và tôi ngày càng bất đồng quan điểm sống, không chăm mâu thuẫn ngày càng gay gắt, không thể hòa hợp thêm được nữa, nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt nên tôi yêu cầu tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Th. Về con chung: trong quá trình chung sống chúng tôi có 02 con chung là cháu Phạm Uyển Nh (sinh ngày 13/4/2018), Phạm Gia H (sinh ngày 30/3/2020). Tôi có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Phạm Gia H (sinh ngày 30/3/2020) cho đến tuổi trưởng thành, 18 tuổi và giao con chung Phạm Uyển Nh (sinh ngày 13/4/2018) cho anh Th trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung, tôi không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung, tôi không yêu cầu giải quyết. Tại phiên toà, chị T yêu cầu được nuôi dưỡng cả 02 con chung cho đến tuổi trưởng thành.

- Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Phạm Văn Th trình bày: Tôi và chị T tự nguyện có đăng ký kết hôn với nhau tại UBND xã C, huyện K vào ngày 02/8/2018. Quá trình chung sống do tôi ghen tuông nên tôi không kiềm chế được bản thân mà có đánh vợ nhưng tôi đã biết lỗi lầm của mình nên tôi mong muốn vợ chồng quay về với nhau; vì vậy, tôi không đồng ý ly hôn. Quá trình chung sống chúng tôi có với nhau 2 người con chung cháu Phạm Uyển Nh (sinh ngày 13/4/2018), Phạm Gia H (sinh ngày 30/3/2020). Nếu chị T kiên quyết ly hôn thì tôi có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung cho đến tuổi trưởng thành, 18 tuổi vì tôi nghe thông tin chị T sẽ kết hôn với người đàn ông khác nên việc nuôi con của tôi là không đảm bảo. Về cấp dưỡng nuôi con chung, tôi không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung, tôi không yêu cầu giải quyết.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục và các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự; Đối với bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa xét xử nhưng vắng mặt không lý do nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn. Về nội dung vụ án, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn cho chị T ly hôn với anh Th. Về con chung: Đề nghị HĐXX chấp nhận giao con chung Phạm Uyển Nh (sinh ngày 13/4/2018) cho anh Th trực tiếp nuôi dưỡng và giao con chung Phạm Gia H (sinh ngày 30/3/2020) cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành; về cấp dưỡng nuôi con chung, các bên không yêu cầu nên không xem xét. Về tài sản và công nợ chung các bên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra để giải quyết là ph hợp với các quy định của pháp luật.

Tại phiên toà nguyên đơn chị T vẫn giữ yêu cầu ly hôn đối với anh Th.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào lời trình bày của các bên đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là quan hệ pháp luật tranh chấp “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Búk theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 đến tham gia phiên tòa xét xử nhưng vắng mặt tại phiên tòa; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh Th tự nguyện kết hôn với nhau tại Uỷ ban nhân dân xã Cư Né, huyện Krông Búk vào ngày 02/8/2018. Vợ chồng chung sống với nhau dần phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng ý kiến, quan điểm sống. Cả hai đã sống ly thân, cho đến nay vẫn không hòa giải đoàn tụ được. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh Th đã đến mức trầm trọng, không thể hoà giải, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T, cho chị T ly hôn với anh Th để tạo điều kiện cho cả hai có một cuộc sống riêng là ph hợp hơn quy định tại khoản 1 Điều 51, Điều 54, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Quá trình chung sống chị T và anh Th có 02 con chung tên Phạm Uyển Nh (sinh ngày 13/4/2018), Phạm Gia H (sinh ngày 30/3/2020). Nguyện vọng của anh Th và chị Vy đều mong muốn được nuôi dưỡng cả 02 con chung; tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy để đảm bảo quyền lợi phát triển về các mặt thể chất và tinh thân cho con chung, cần giao cháu Phạm Uyển Nh cho anh Th trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu Phạm Gia H cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi là ph hợp. Về cấp dưỡng nuôi con chung, các bên không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết. Các bên được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở; vì lợi ích của con theo yêu cầu của một hoặc hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con chung; là ph hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản và công nợ chung: Các bên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Toà án không đặt ra để xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 4 Điều 147 Bộ Luật tố tụng dân sự;

- Khoản 1 Điều 51, Điều 54, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Nghị quyết số 326/UBTVQH 12 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Cao Thị Huyền T.

- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Cao Thị Huyền T được ly hôn với anh Phạm Văn Th.

- Về con chung: Giao con chung Phạm Uyển Nh (sinh ngày 13/4/2018) cho anh Phạm Văn Th trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Giao con chung Phạm Gia H (sinh ngày 30/3/2020) cho chị Cao Thị Huyền T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các bên không yêu cầu giải quyết.

Các bên được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở; vì lợi ích của con theo yêu cầu của một hoặc hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.

- Về tài sản và công nợ chung: Các bên không yêu cầu giải quyết.

- Về án phí: Chị Cao Thị Huyền T phải chịu số tiền 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số AA/2022/0000404 ngày 29/5/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Búk.

Báo cho nguyên đơn có quyền kháng cáo án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày được cấp, tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ