- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "H H Liêng Hot - Y T Liêng"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị H H Liêng Hot đối với bị đơn anh Y T Liêng về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÔNG TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2023/HNGĐ-ST Ngày 22 – 9 – 2023 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÔNG, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Văn Hồi.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Văn Hòe; Ông Y Lợi Êban.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Nga – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Bông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Bông tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 9 năm 2023, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Krông Bông, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 56/2023/TLST-HNGĐ, ngày 29/3/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/8/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2022/QĐST-HNGĐ ngày 06/9/2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị H H Liêng Hot, sinh năm 1995
Địa chỉ: Buôn K, xã Ea T, huyện Krông B, tỉnh Đắk Lắk
Bị đơn: Anh Y T Liêng, sinh năm 1990
Địa chỉ: Buôn K, xã Ea T, huyện Krông B, tỉnh Đắk Lắk.
(Nguyên đơn: vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn: vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 20/3/2023, bản tự khai và các tài liệu chứng cứ đã xuất trình nguyên đơn chị H H Liêng Hot trình bày:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị H H Liêng Hot và anh Y T Liêng chung sống với nhau từ năm 2010, đến năm 2012 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã Ea T, huyện Krông B, tỉnh Đắk Lắk. Chung sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn, anh Y T thường xuyên uống rượu say sỉn rồi kiếm chuyện đánh đập chị H, mặc dù chị H cùng hai bên gia đình đã khuyên can nhiều lần nhưng anh Y T không thay đổi, đến tháng 2 năm 2019 thì chị H đi làm công nhâ tại tỉnh Tây Ninh với mong muốn anh Y T sẽ tỉnh ngộ để vợ chồng đoàn tụ nhưng vẫn không có kết quả. Vợ chồng đã không còn chung sống với nhau từ tháng 2 năm 2019 đến nay. Chị H H xác định vợ chồng không còn tình cảm, cuộc sống chung không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án nhân dân huyện Krông Bông giải quyết cho chị H H được ly hôn với anh Y T Liêng.
[2] Về con chung: Chị H H Liêng Hot và anh Y T Liêng có 02 người con chung, cháu tên Y’ Đ Liêng Hot, sinh ngày 21/02/2012 và H Đ Liêng Hot, sinh ngày 25/3/2018.
Khi ly hôn, chị H H có nguyện vọng muốn được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai người con chung và không yêu cầu anh Y T phải cấp dưỡng để nuôi con chung.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 31/3/2023 cháu Y’ Đ Liêng Hot khai: Cháu là con của mẹ H H và bố Y T. Từ lâu cha mẹ đã không còn ở với nhau, mẹ đi làm ăn xa, cháu ở với bà ngoại, khi cha mẹ cháu ly hôn không ở với nhau nữa, cháu muốn được trực tiếp ở với mẹ H H.
[3] Về tài sản chung và nợ chung: Tại bản tự khai và biên bản làm việc khác chị H H đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Y T Liêng nhưng không hợp tác nên không thể làm việc được.
Qua xác minh tại chính quyền địa phương: Anh Y T Liêng hiện vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại Buôn K, xã Ea T, huyện Krông B, hiện nay anh Y T không có mặt tại địa phương, đang đi làm công nhân tại tỉnh Tây Ninh nhưng vẫn thường xuyên về nhà tại Buôn K.
Tòa án đã thông qua Văn phòng thừa phát lại để tống đạt cho Y T Liêng các văn bản tố tụng: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Các văn bản đều được chị H L Liêng (là em gái của Y T) trực tiếp ký nhận toàn bộ. Tòa án cũng đã làm việc với chị H L Liêng, qua làm việc chị H L cho biết, chị được ký nhận toàn bộ các văn bản của Tòa án mà nhân viên Văn phòng thừa phát lại giao và đã giao lại toàn bộ cho anh Y T, còn việc anh Y T có đến Tòa án làm việc hay không thì chị H L không biết. Tuy nhiên, anh Y T đều vắng mặt không có lý do, nên không thể tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa hôm nay, chị Hứa xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Về hôn nhân: chị H H đề nghị Tòa án cho ly hôn với anh Y T vì cuộc sống xảy ra nhiều mâu thuẫn gia đình, không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 2 năm 2019 đến nay nên không có khả năng đoàn tụ; Về con chung: chị H H có nguyện vọng muốn được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai người con chung; Về cấp dưỡng: chị H H không yêu cầu anh Y T phải cấp dưỡng để nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung: Chị H H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Y T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Bông trình bày quan điểm đối với việc giải quyết vụ án như sau:
Về tố tụng: Quá trình thu thập chứng cứ của vụ án từ khi thụ lý cho đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã giải quyết đúng trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và đương sự đã chấp hành tốt các quy định của pháp luật về phiên toà sơ thẩm. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, các thủ tục tố tụng đã niêm yết đầy đủ, tại phiên tòa hôm nay đã được mở lần thứ hai nên việc HĐXX vẫn tiến hành xét xử là bảo đảm đúng thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do, quyết định hoãn phiên tòa đã được tống đạt, do vậy Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định.
Về nội dung: Nguyên đơn thực hiện quyền khởi kiện, cung cấp đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bị đơn không hợp tác, cố tình vắng mặt.
Qua chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do đương sự cung cấp và tòa án thu thập được công khai tại phiên tòa, qua kết quả tranh luận tại phiên tòa thì có đủ cơ sở xác định mâu thuẫn gia đình của chị H H và anh Y T đã đến múc trầm trọng, cuộc sống chung không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét. Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị H H Liêng Hót được ly hôn với anh Y T Liêng. Về con chung: giao các cháu Y’ Đ Liêng Hot và H Đ Liêng Hot cho chị H Hứa trực tiếp nuôi dưỡng. Các vấn đề khác đương sự không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.
Về án phí: Chị H H là người dân tộc thiểu số sinh sống ở khu vực có kinh tế đặc biệt khó khăn, được miễn toàn bộ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày và xác nhận của đương sự trước phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX xét thấy:
Về thẩm quyền: Vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” giữa chị H H Liêng Hot với anh Y T Liêng, do bị đơn có nơi cư trú tại huyện Krông Bông nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Bông theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, do đó Tòa án nhân dân huyện Krông Bông thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền.
Tại phiên tòa hôm nay, anh Y T Liêng vắng mặt là lần thứ hai, quyết định hoãn phiên tòa đã được tống đạt, tòa án vẫn tiến hành phiên tòa xét xử vắng mặt anh Y T là phù hợp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị H H Liêng Hot và anh Y T Liêng chung sống với nhau từ năm 2010, đến năm 2012 mới tiến hành làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã Ea T, huyện Krông B, tỉnh Đắk Lắk theo giấy chứng nhận kết hôn số 40 ngày 26/10/2012. Chung sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn, anh Y T thường xuyên uống rượu say sỉn rồi kiếm chuyện đánh đập chị H H, mặc dù chị H H cùng hai bên gia đình đã khuyên can nhiều lần nhưng anh Y T không thay đổi. Vợ chồng đã không còn chung sống với nhau từ tháng 02 năm 2019 đến nay. Chị H H xác định vợ chồng không còn tình cảm, cuộc sống chung không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án nhân dân huyện Krông Bông giải quyết cho H H được ly hôn với anh Y T Liêng.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã Thông qua văn phòng Thừa phát lại tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Các văn bản tố tụng đều được chị H L Liêng (là em gái của Y T) trực tiếp ký nhận toàn bộ, chị H L cũng thừa nhận đã giao lại toàn bộ cho anh Y T. Qua xác minh tại chính quyền địa phương, anh Y T vẫn có hộ khẩu tại địa phương nhưng đi làm ăn ở tỉnh Tây Ninh và thường xuyên đi về nhà tại buôn K, xã Ea T. Như vậy anh Y T đã được người thân giao các văn bản tố tụng của tòa án và đã biết được việc chị H Hứa đang yêu cầu Tòa án giải quyết xin ly hôn với anh nhưng anh Y T đều vắng mặt không có lý do, cố tình trốn tránh không hợp tác làm việc, anh Y T tự từ bỏ quyền tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Tại biên bản xác minh mâu thuẫn gia đình ngày 20/6/2023, buôn trưởng buôn K, xã Ea T, huyện Krông B, cho biết: anh Y T và chị H H có xảy ra mâu thuẫn gia đình, do ghen tuông nên dẫn tới cuộc sống gia đình không có hạnh phúc, hiện tại vợ chồng đã không còn chung sống với nhau, cả hai đều đi làm ăn xa, nhà để không có ai ở, con gửi cho ông bà nuôi dưỡng.
Qua lời trình bày của đương sự và biên bản xác minh, HĐXX xét thấy giữa chị H H và anh Y T thực tế có xảy ra mâu thuẫn gia đình, nguyên nhân mâu thuẫn xuất phát từ việc anh Y T thường xuyên uống rượu xay sỉn, ghen tuông với nhau, nhiều lần xảy ra việc anh Y T đánh chị H H. Chị H H khai đã sống ly thân từ tháng 02 năm 2019 đến nay, vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc nhau, nay chị H H yêu cầu giải quyết ly hôn. Căn cứ vào chứng cứ nêu trên để khẳng định giữa chị H H và anh Y T mâu thuẫn gia đình đã đến mức trầm trọng. Chị H H và anh Y T không còn chung với nhau đã lâu, không còn có sự thương yêu, quan tâm chăm sóc lẫn nhau, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được và không còn khả năng đoàn tụ. Do đó, yêu cầu khởi kiện của chị H H cần được HĐXX chấp nhận, cho chị H H Liêng Hot được ly hôn với anh Y T Liêng là phù hợp theo quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị H H và anh Y T có 02 người con chung, là Y’ Đ Liêng Hot, sinh ngày 21/02/2012 và H Đ Liêng Hot, sinh ngày 25/3/2018. Khi ly hôn chị H H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai người con chung. Tại bản tự khai cháu Y Đ có nguyện vọng được trực tiếp ở với chị H H, xét nguyện vọng của cháu Y Đ và nguyện vọng của chị H là chính đáng, kể từ khi sống ly thân đến nay thì chị H là người trực tiếp nuôi dưỡng cả hai người con chung nên HĐXX cần chấp nhận giao cả hai người con chung cho chị H H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng: Chị H H chưa yêu cầu anh Y T phải cáp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không đặt ra để giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị H H không yêu cầu nên HĐXX không đặt ra để giải quyết.
3. Về án phí: Chị H H Liêng Hot là người dân tộc thiểu số sinh sống ở khu vực có kinh tế đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn tiền án phí nên chị H H được miễn toàn bộ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 48; Điều 144, Điều 147; Điều 220; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; điểm a, b khoản 1 Điều 238; Điều 241; 266; 267; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị H H Liêng Hot đối với bị đơn anh Y T Liêng về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị H H Liêng Hot được ly hôn với anh Y T Liêng. Giấy chứng nhận kết hôn số 40, ngày 26/10/2012 do Ủy ban nhân dân xã Ea T, huyện Krông B, tỉnh Đắk Lắk cấp cho chị H H Liêng Hot và anh Y T Liêng hết hiệu lực kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.
[2] Về con chung: Giao các cháu Y’ Đ Liêng Hot - sinh ngày 21/02/2012 và H Đ Liêng Hot - sinh ngày 25/3/2018 cho Chị H H Liêng Hot trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi các cháu Y’ Đ Liêng Hot và H Đ Liêng Hot đủ tròn 18 tuổi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con vẫn được thực hiện mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật như; có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở thực hiện quyền này.
Để đảm bảo quyền lợi chung của con chưa đủ tuổi thành niên, các bên có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con do các bên tự thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
[3] Về án phí: Chị H H Liêng Hot được miễn toàn bộ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn là mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND H. Krông Bông; - Các đương sự; - UBND xã Ea Trul; - Lưu HS, VP. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Văn Hồi |