vanban.org

Bản án 16/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị T. Chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Đức N.

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 98/2011, quyển 01/2011, đăng ký ngày 23/9/2011 của Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước không còn hiệu lực khi Bản án hôn nhân gia đình về việc ly hôn của anh chị có hiệu lực pháp luật. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hạ Tâm N1, sinh ngày 24/5/2012 cho chị… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị T. Chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Đức N.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 131 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÙ ĐĂNG
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2023/HNGĐ – ST
Ngày: 16 - 3 -2023
V/v "Ly hôn".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Đức Hòa và ông Phạm Thành Đô

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

Ngày 16 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 18/2023/TLST- HNGĐ, ngày 06 tháng 02 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2023/QĐXX - ST ngày 28 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị T,

sinh năm: 1991

Nơi thường trú: Thôn 9, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước

- Bị đơn: anh Nguyễn Đức N,

sinh năm 1988

Nơi thường trú: Thôn S, Quảng T, huyện T, tỉnh Đăk Nông

(Nguyên đơn, bị đơn có văn bản vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 05/12/2022 và trong quá trình thụ lý vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Đức N tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2011, có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước vào ngày 23/9/2011. Trong quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh chị không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, thường xảy ra cải vả, xô xát. Chị thấy mục đích hôn nhân không đạt được, không thể kéo dài hôn nhân thêm được nữa. Vì vậy, tôi yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Đức N.

Về con chung: Chị và anh N có hai người con chung, họ tên là Nguyễn Hạ Tâm N1, sinh ngày 24/5/2012 và Nguyễn Đăng N2, sinh ngày 14/4/2014. Sau khi ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hạ Tâm N1. Giao cháu Nguyễn Đăng N2 cho anh Nguyễn Đức N trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản và nợ: Không yêu cầu giải quyết.

Tại biên bản lời khai, bị đơn anh Nguyễn Đức N trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị T tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước.Trong quá trình chung sống có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do chúng tôi không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, thường xảy ra cải vả. Nay chị T yêu cầu ly hôn thì anh không muốn ly hôn với chị T. Anh đồng ý Tòa án huyện Bù Đăng giải quyết vụ án ly hôn theo đơn khởi kiện ly hôn của chị T tại Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng.

Về con chung: Anh và chị T có hai người con chung, họ tên là Nguyễn Hạ Tâm N1, sinh ngày 24/5/2012 và Nguyễn Đăng N2, sinh ngày 14/4/2014. Sau khi ly hôn, anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu Nhi và Nguyên.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản và nợ: Không yêu cầu giải quyết.

Nguyên đơn chị T và bị đơn anh N có văn bản đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt.

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào lời khai của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Theo đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị T yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Đức N cư trú tại Đăk Soun, Quảng Tân, huyện Tuy Đức, tỉnh Đăk Nông; tại biên bản lời khai, bị đơn anh N đồng ý giải quyết vụ án ly hôn với chị T tại Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước. Chị T và anh N tự nguyện chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước. Hội đồng xét xử nhận thấy đây là quan hệ tranh chấp về ly hôn. Căn cứ Điều 28; Điều 35; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định vụ án hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

Nguyên đơn chị T và bị đơn anh N có văn bản đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định pháp luật.

Xét về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị T yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Đức N, Hội đồng xét xử xét thấy:

Nguyên đơn chị T yêu cầu ly hôn với anh N, tại biên bản lời khai anh N không muốn ly hôn với chị T nhưng phía chị T vẫn giữa nguyên yêu cầu ly hôn với anh N, xét thấy: Trong thời gian chung sống chị T và anh N có phát sinh mâu thuẫn, không có sự hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, xảy ra cãi vã, phía bị đơn anh N cũng thừa nhận sự việc này. Như vậy, chị T và anh N đã có sự vi phạm về nghĩa vụ của người vợ, người chồng đối với nhau; cụ thể: không còn sự hòa hợp, thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ, chung sống với nhau. Đối chiếu với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, xét thấy hôn nhân giữa chị T và anh N lâm vào tình trạng trầm trọng, hôn nhân không đạt được mục đích, nay. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu ly hôn của nguyên đơn chị T là có căn cứ nên cần chấp nhận.

Về con chung: Chị T và anh N có hai người con chung, họ tên là Nguyễn Hạ Tâm N1, sinh ngày 24/5/2012 và Nguyễn Đăng N2, sinh ngày 14/4/2014. Chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N1, giao cháu N2 cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng. Anh N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu N1 và N2. Căn cứ khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “...nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên phải xem xét nguyện vọng của con”; căn cứ theo biên bản lời khai của cháu Nguyễn Hạ Tâm N1 thì cháu Nhi có nguyện vọng được ở với mẹ là chị Nguyễn Thị T. Tại biên bản lời khai của cháu Nguyễn Đăng N2 thì cháu có nguyện vọng được ở với ba cháu là anh Nguyễn Đức N. Vì vậy, cần giao cháu Nguyễn Hạ Tâm N1 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao cháu Nguyễn Đăng N2 cho anh Nguyễn Đức N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản và nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Đương sự phải chịu theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 51; Điều 56; Điều 81,82,83,84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào Điều 28; Điều 35;Điều 147; Điều 131 Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án ngày 30/12/2016.

1.Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị T. Chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Đức N.

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 98/2011, quyển 01/2011, đăng ký ngày 23/9/2011 của Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước không còn hiệu lực khi Bản án hôn nhân gia đình về việc ly hôn của anh chị có hiệu lực pháp luật.

2.Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hạ Tâm N1, sinh ngày 24/5/2012 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao cháu Nguyễn Đăng N2, sinh ngày 14/4/2014 cho anh Nguyễn Đức N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom hoặc cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Các bên có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.

3.Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.

4. Về tài sản và nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp trước là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000875, ngày 06/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. Nơi Nhận:

Cỡ chữ