vanban.org

Bản án 16/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Vũ Thị H. Bà Vũ Thị H được ly hôn với ông Phạm Văn K.

Về con chung: Đối với cháu Phạm Quốc T, sinh ngày 01/8/2001 đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết; bà Vũ Thị H được quyền trực tiếp nuôi con chung Phạm Ngọc Huyền M, sinh ngày 08/9/2007. Ghi nhận sự tự nguyện của bà H không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con chung. Ông Phạm Văn K có quyền thăm … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoa-Kinh"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Vũ Thị H. Bà Vũ Thị H được ly hôn với ông Phạm Văn K.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2023/HNGĐ - ST
Ngày: 27 – 01 - 2023
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lựu

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Công Trung

2. Bà Võ Thị Hiền

- Thư ký phiên toà: Ông Trương Hữu Lộc – Thư ký Toà án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri tham gia phiên tòa: Bà Dương Thy Trúc Phương – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ba Tri xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 513/2022/TLST - HNGĐ ngày 12/10/2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 163/2022/QĐST - HNGĐ ngày 09/12/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 126/2022/QĐST – HNGĐ ngày 26/12/2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Vũ Thị H, sinh năm 1977 (vắng mặt – có đơn)

ĐKTT: ấp Cầu Ván, xã P T, huyện D Q, tỉnh D N.

Bị đơn: Ông Phạm Văn K, sinh năm 1969 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp An Thạnh, xã A T, huyện B T, tỉnh BT.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Vũ Thị H trình bày:

Bà và ông Phạm Văn K cưới nhau năm 2000 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phú Túc, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai ngày 21/4/2000. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng thường xuyên cự cãi dẫn đến mâu thuẫn ngày càng gay gắt. Nay bà nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm T, không còn khả năng hàn gắn, bà không còn tình cảm vợ chồng với ông K, không muốn tiếp tục cuộc sống hôn nhân với ông K nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông K.

Về con chung: Trong thời gian chung sống bà và ông K có hai con chung là cháu Phạm Quốc T, sinh ngày 01/8/2001 và Phạm Ngọc Huyền M sinh ngày 08/9/2007 khi ly hôn đối với cháu T đã trưởng thành bà không yêu cầu giải quyết; đối với cháu Huyền M bà yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung, bà tự nguyện không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Trong quá trình tố tụng vụ án, bị đơn ông Phạm Văn K không có văn bản thể hiện ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của bà H, không đến Tòa án để tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm nên không có lời trình bày.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri trình bày quan điểm:

- Về thủ tục: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS). Hội đồng xét xử và Thư ký tại phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 71 BLTTDS; bị đơn vắng mặt không lý do trong suốt quá trình tố tụng và tại phiên tòa xét xử nên chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 72 BLTTDS. Tại phiên tòa, nhận thấy thành viên Hội đồng xét xử thể hiện sự vô tư, khách quan độc lập khi xét xử. Do đó, vụ án được đưa ra xét xử là đúng quy định pháp luật.

- Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, tuyên xử:

+ Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Vũ Thị H được ly hôn với ông Phạm Văn K.

+ Về con chung: Đối với cháu Phạm Quốc T, sinh ngày 01/8/2001 đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết; đối với cháu Phạm Ngọc Huyền M giao cho bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng (phù hợp với nguyện vọng muốn sống với mẹ của cháu Huyền M). Ghi nhận sự tự nguyện của bà H không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con chung.

+ Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

+ Về nợ chung: Không có nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát. Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

Về tố tụng: Bị đơn ông Phạm Văn K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa xét xử nhưng ông K vắng mặt không lý do. Nguyên đơn bà Vũ Thị H có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà H và ông K.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Bà H và ông K cưới nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định tại Ủy ban nhân dân xã Phú Túc, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai ngày 21/4/2000 nên là hôn nhân hợp pháp. Do đó, hôn nhân của bà H và ông K là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Quá trình giải quyết vụ án, bà H cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm T, hai bên đã sống ly thân từ tháng 8/2020 cho đến nay mâu thuẫn của vợ chồng không thể hòa giải, hàn gắn được nên bà H yêu cầu ly hôn với ông K. Ông K biết việc bà H yêu cầu ly hôn với ông nhưng trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án nhân dân huyện Ba Tri đã nhiều lần tiến hành tổ chức phiên hòa giải để vợ chồng hàn gắn tình cảm nhưng ông K vẫn vắng mặt không có lý do, cũng không gửi văn bản thể hiện ý kiến muốn hàn gắn tình cảm với bà H. Điều đó thể hiện ông K đã không có thiện chí muốn vợ chồng đoàn tụ. Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà H và ông K là trầm T, không có khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của bà H với ông K là có căn cứ phù hợp với quy định tại các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà H và ông K có hai người con chung là cháu Phạm Quốc T, sinh ngày 01/8/2001; và cháu Phạm Ngọc Huyền M, sinh ngày 08/9/2007. Hiện cháu T đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết; cháu M đang sống cùng bà H. Xét yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng con chung của bà H là có cơ sở, đảm bảo được sự ổn định cho cuộc sống, việc học hành cũng như tâm sinh lý của con chung. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận giao con chung cháu Huyền M cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng (phù hợp với nguyện vọng muốn được sống với mẹ của cháu Huyền M). Ghi nhận sự tự nguyện của bà H không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Nợ chung: Không có nên không xem xét.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) bà Vũ Thị H phải nộp theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Vũ Thị H. Bà Vũ Thị H được ly hôn với ông Phạm Văn K.

2. Về con chung: Đối với cháu Phạm Quốc T, sinh ngày 01/8/2001 đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết; bà Vũ Thị H được quyền trực tiếp nuôi con chung Phạm Ngọc Huyền M, sinh ngày 08/9/2007. Ghi nhận sự tự nguyện của bà H không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Phạm Văn K có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở. Khi có nhu cầu, vì lợi ích của con chung, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.

Nợ chung: Bà H khai không có nên không xem xét.

4. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) bà Vũ Thị H phải nộp và được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0008973 ngày 03/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà H đã nộp xong.

Bà Vũ Thị H, ông Phạm Văn K vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ