- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "vay tai san"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: khoản 3 điều 26 Bộ Luật Tố tụng Dân sự; Điều 463;464;465;466 280; 357 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 điều 26 Nghị quyết số 326 điểm b mục 1.
- Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 280 Bộ luật Dân sự; Điều 357 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2023/DS-ST Ngày: 14 -12-2023 V/v “ Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tạ Thị Hương.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Thoa; Ông Trịnh Đình Hồng
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Ngọc Lan - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Bỉm sơn.
Ngày 14 tháng 12 năm 2023, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Bỉm sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 41/2023 /TLST-DS ngày 31 tháng 7 năm 2023 về tranh chấp: “ Hợp đồng vay tài sản ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16 /QĐXX-DS ngày 16 / 10 /2023; quyết định hoãn phiên tòa số 55/2023/ QĐST-DS ngày 31/10/2023, quyết định hoãn phiên tòa số 61/2023/QĐST-DS ngày 14/11/2023 giữa các đương sự: 1Nguyên đơn : Anh Trịnh Quốc Đ sinh năm 1985 Trú tại: Số nhà 35 đường 11, phường N , thị xã B , tỉnh T ( có mặt) 2.Bị đơn: Chị Lê Thị T sinh năm 1988 Trú tại: Số nhà 232 khu phố 3, phường B, thị xã B, tỉnh T ( có mặt) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị T: -Luật sư Nguyễn Văn C, Luật sư Nguyễn Quang H Công tác tại công ty Luật TNHH SQ Đoàn luật sư Thành phố H ( Luật sư C , Luật sư H có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 04/7/2023 , bản tự khai các ngày 07 tháng 7 năm 2023; 01/8/2023, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn anh Trịnh Quốc Đ bày:
Anh và chị Lê Thị T có mối quan hệ quen biết nhau. Khoảng tháng 8 năm 2022 chị T có vay của anh số tiền 50.000.000đ ( năm mươi triệu đồng) để mua đất. Chị T cũng đưa anh đi xem đất trước khi anh cho chị T vay tiền. Anh đã chuyển tiền vào tài khoản của chị T số tiền 50.000.000đ ( năm mươi triệu đồng) chị T đã nhận được số tiền này. Đầu năm 2023 chị T bán miếng đất đó nhưng không trả cho anh số tiền đã vay. Vì vậy, anh đề nghị Tòa án giải quyết buộc chị T phải trả cho anh số tiền 50.000.000đ, không yêu cầu lãi suất.
Tại bản tự khai ngày 31 tháng 7 năm 2023 và quá trình giải quyết vụ án bị đơn chị Lê Thị T trình bày:
Giữa chị và anh Trịnh Quốc Đ trước đây có mối quan hệ tình cảm yêu đương nhau. Ngày 25/8/2022 anh Đ có lên nhà chị hỏi vay chị số tiền 50.000.000đ và hứa là ngày 26/8/2022 sẽ trả số tiền này cho chị. Chị đã cho anh Đ vay số tiền 50.000.000đ bằng tiền mặt, không có giấy tờ gì và đến ngày 26/8/2022 anh Đ đã chuyển khoản trả lại cho chị số tiền 50.000.000đ. Việc anh Đ chuyển khoản số tiền 50.000.000đ cho chị là trả nợ cho chị chứ không phải là chị vay. Vì vậy, chị không nhất trí trả nợ cho anh Đ số tiền 50.000.000đ.
Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn anh Trịnh Quốc Đ giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc chị T phải trả cho anh số tiền 50.000.000đ chị Thu vay anh đã chuyển khoản cho chị T vào ngày 26/8/2022. Chị T trình bày đó là tiền anh Đ trả nợ cho chị. Trước đó một ngày, anh Đ có vay của chị 50.000.000đ tiền mặt, lúc vay chỉ có chị và anh Đ , ngoài ra không ai biết và chứng kiến, việc vay mượn không có giấy tờ chứng minh.
Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn chị Lê Thị T trình bày:
Luật sư Nguyễn Văn C trình bày: Việc anh Đ chuyển khoản cho chị T không thể hiện rõ là cho vay, qua xem video anh Đ cung cấp chị T cũng không nói là vay tiền của anh Đ , việc anh Đ chuyển tiền cho chị T là tự nguyện, nên chị T được chiếm hữu hợp pháp số tiền này. Anh Đ không có căn cứ để khởi kiện yêu cầu chị T phải trả nợ số tiền này. Luật sư Nguyễn Quang H cho rằng theo nội dung video anh Đ cung cấp thể hiện chị T và anh Đ có mối quan hệ tình cảm với nhau, không thể hiện việc vay mượn, giấy chuyển khoản không thể hiện việc anh Đ chuyển khoản cho vay nên không có cơ sở chấp nhận đơn khởi kiện của anh Đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, hội đồng xét xử nhận định:
Xét về tố tụng: Xét thấy, việc anh Trịnh Quốc Đ có đơn khởi kiện đối với chị Lê Thị T về việc yêu cầu chị T phải trả số tiền 50.000.000đ ( năm mươi triệu đồng), theo nội dung anh Định đã chuyển khoản cho chị vào ngày 26/8/2023 là quan hệ pháp luật: “ Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” anh Trịnh Quốc Đ có địa chỉ tại đường 11 phường N, thị xã B nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã B. theo quy định tại khoản 3 điều 26; điểm a khoản 1 điều 39 bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung : Căn cứ vào chứng cứ mà nguyên đơn xuất trình cho Tòa án thì ngày 26/8/2022 anh Trịnh Quốc Đ đã chuyển khoản cho chị Lê Thị T số tiền 50.000.000đ ( nội dung chuyển khoản từ TK 50510000534854 Ngân hàng BIDV sang số TK xxxxxxxxxxxx Ngân hàng Vietinbank số tiền là 50.000.000đ có xác nhận của Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Bỉm Sơn, ngày chuyển khoản 26/8/2022 ). Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa chị T thừa nhận đã nhận được số tiền anh Đ chuyển tuy nhiên chị cho rằng đó là tiền anh Đ trả nợ. Quá trình giải quyết, anh Đ không thừa nhận sự việc anh đã nợ chị T và chị T cũng không có chứng cứ gì chứng minh việc trước đó chị cho anh Đ vay số tiền 50.000.000đ và số tiền 50.000.000đ chỉ là anh Đ chuyển trả cho chị.
Các luật sư cho rằng việc anh Đ chuyển khoản cho chị T không ghi nội dung cho vay, qua xem xét nội dung vi deo anh Đ nộp cho Tòa án thể hiện chị T không thừa nhận số nợ, việc anh Đ chuyển khoản là tự nguyện nên có thể hiểu là chị T được tặng cho số tiền này và chị T được chiếm hữu hợp pháp số tiền mà anh Đ chuyển khoản cho chị, anh Đ không có quyền khởi kiện về số tiền này.
Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, anh Đ không thừa nhận là cho chị T số tiền đã chuyển khoản mà đó là tiền anh Đ cho chị T vay và chứng minh bằng việc đã chuyển khoản, chị T đã nhận số tiền vay anh là 50.000.000đ. Vì vậy, không có cơ sở chứng minh là anh Đ cho tặng chị T số tiền đã chuyển khoản. Việc chị T khai lúc thì là tiền trả nợ, lúc thì là tiền được chiếm hữu hợp pháp do anh Đ tự nguyện chuyển khoản nhưng không có căn cứ chứng minh. Do đó, cần phải chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trịnh Quốc Định buộc chị Lê Thị Thu phải có trách nhiệm trả cho anh Định số tiền anh Định đã chuyển khoản ngày 28/6/2022 là 50.000.000đ.
[3] Về án phí: án phí Dân sự sơ thẩm chị Lê Thị Thu phải nộp: 1.250.000 đ ( Một triệu, hai trăm năm mươi ngàn đồng ). Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng: khoản 3 điều 26 Bộ Luật Tố tụng Dân sự; Điều 463;464;465;466 280; 357 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 điều 26 Nghị quyết số 326 điểm b mục 1.3 danh mục về mức án phí ban hành theo nghị quyết số 326/ 2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016.
2.Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn buộc chị Lê Thị T phải có trách nhiệm trả cho anh Trịnh Quốc Đ số tiền 50.000.000đ ( năm mươi triệu đồng).
Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật, anh Trịnh Quốc Đ có đơn đề nghị thi hành án, nếu chị T không trả được số nợ trên thì hàng tháng phải chịu thêm khoản lãi suất chậm trả tương ứng với thời gian chưa thi hành án. Mức lãi suất bằng 50% mức lãi suất quy định tại khoản 1 điều 468 BLDS.
3.Về án phí: chị Lê Thị T phải nộp tiền án phí là: 1.250.000 đ ( Một triệu, hai trăm năm mươi ngàn đồng ).
-Trả lại cho anh Trịnh Quốc Đ số tiền tạm ứng án phí anh Đ đã nộp là 1.250.000 đ.( Một triệu, hai trăm năm mươi ngàn đồng ) theo biên lai thu số AA/2022/0006356 ngày 28 tháng 7 năm 2023 của chi cục thi hành án dân sự thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
4. Bản án này được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7a và 9 Luật thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án Dân sự được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự. Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự anh Trịnh Quốc Định và chị Lê Thị Thu được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ( 14/12/2023)
| Nơi nhận: - Các Đương sự - VKSND TX Bỉm sơn; - TAND tỉnh Thanh Hóa; - THADS thị xã Bỉm sơn -Tòa án nhân dân tỉnh Thanh hóa | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TẠ THỊ HƢƠNG |