vanban.org

Bản án 16/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai Tuyên án 16/05/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N.

Ông Rơ Châm P và bà Siu B phải liên đới trả cho Ngân hàng N: tiền nợ gốc còn lại 134.668.000đ, tiền nợ lãi trong hạn còn lại 29.383.562đ, tiền nợ lãi quá hạn 53.928.409đ và tiền nợ lãi chậm trả trong hạn là 3.664.344đ. Tổng cộng nợ gốc và lãi là 221.644.315đ (hai trăm hai mươi mốt triệu sáu trăm bốn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N.
  • Căn cứ chính? Điều 167 Luật Đất đai; Điều 168 Luật Đất đai; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN IA GRAI
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2023/DS-ST
Ngày 16/5/2023
V/v Tranh chấp Hợp đồng tín
dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI TỈNH GIA LAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Chí Công

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông RChâm Đương

2. Ông Nguyễn Như Quang.

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Thái Nam, Thư ký Toà án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số 107/2022/TLST-DS ngày 09 tháng 8 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2023/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng N

Địa chỉ: 02 L, phường T, quận B, thành phố H.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Tiết Văn T, chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Cao Tấn Đ, chức vụ: Giám đốc Ngân hàng N – Chi nhánh huyện I.

Người được ủy quyền lại: Ông Bùi Nhứt V - chức vụ: Trưởng phòng Kế hoạch

- Kinh doanh Ngân hàng N – Chi nhánh huyện I (có mặt).

2. Bị đơn: Ông Rơ Châm P và bà Siu B

Địa chỉ: Làng D, xã Ia, huyện I, tỉnh G (có mặt).

3. Người phiên dịch: Ông Rcom B (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Đại diện nguyên đơn trình bày: Ngân hàng N (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) cho bị đơn vay số tiền 300.000.000đ để chăm sóc cây cà phê, chăn nuôi bò và mua sắm vật dụng gia đình theo hợp đồng tín dụng số 5005 - LAV - 202000423 ngày 12/02/2020, lãi suất cho vay là 11%/năm (tại thời điểm vay) với thời hạn 24 tháng. Ông Pyiuh và bà Bol có trách nhiệm trả số nợ vay trên cho Ngân hàng thành 02 kỳ, ngày 12/02/2021 trả 100.000.000đ, ngày 12/02/2022 trả 200.000.000đ. Ngày 12/02/2021, do tình hình kinh tế khó khăn nên Ngân hàng chấp nhận kéo dài thời hạn trả nợ gốc đến ngày 12/02/2022. Ngày 16/7/2021 Ngân hàng có thông báo điều chỉnh giảm lãi suất cho vay trong hạn của bị đơn từ 11%/năm xuống còn 9,9%/năm trong thời gian từ ngày 15/7/2021 đến hết ngày 31/12/2021.

Để đảm bảo khoản vay trên, giữa Ngân hàng với bị đơn có ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 422019/HĐTC ngày 29/01/2019 để thế chấp các tài sản sau:

Quyền sử dụng diện tích 2.670m2 đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 82, tờ bản đồ số 51, địa chỉ: xã Ia Bă, huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai, theo giấy CNQSD đất số S 546430 do UBND huyện Ia Grai cấp ngày 19/12/2000.

Quyền sử dụng diện tích 9.410,3m2 đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 579, tờ bản đồ số 13, địa chỉ: làng Dun De, xã Ia Bă, huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai, theo giấy CNQSD đất và QSH nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BP 180732 do UBND huyện Ia Grai cấp ngày 20/6/2014.

Quyền sử dụng diện tích 4.577m2 đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 79, tờ bản đồ số 105, địa chỉ: làng Dun De, xã Ia Bă, huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai, theo giấy CNQSD đất số AO 303777 do UBND huyện Ia Grai cấp ngày 27/11/2008.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, từ ngày 12/02/2020 đến ngày 09/3/2021 bị đơn chỉ trả cho Ngân hàng được 35.441.096đ tiền lãi. Ngày 12/02/2022 đến hạn trả nợ gốc và lãi nhưng bị đơn vẫn không thực hiện nghĩa vụ. Sau khi Ngân hàng khởi kiện, ngày 05/01/2023 bị đơn trả được 75.332.000đ tiền gốc, ngày 22/02/2023 trả tiếp 90.000.000đ tiền gốc.

Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả cho Ngân hàng các khoản sau: Tiền nợ gốc còn lại 134.668.000đ, tiền nợ lãi trong hạn từ ngày 10/3/2021 đến ngày 14/02/2022 còn lại là 29.383.562đ; tiền nợ lãi quá hạn từ ngày 15/02/2022 đến ngày 16/5/2023 là 53.928.409đ; tiền nợ lãi chậm trả trong hạn từ ngày 13/02/2022 đến ngày 16/5/2023 là 3.664.344đ. Tổng cộng nợ gốc và lãi là 221.644.315đ. Ngân hàng không đồng ý đề nghị gia hạn nợ và không tính tiền lãi chậm trả lãi trong hạn của bị đơn. Nếu bị đơn không trả nợ đầy đủ thì đề nghị Toà án xử lý tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ. Bị đơn đã trả lại cho Ngân hàng 4.500.000đ chi phí xem xét thẩm định nên Ngân hàng không yêu cầu trả nữa.

Bị đơn trình bày: Ông, bà thừa nhận có nợ của Ngân hàng tiền gốc và lãi như Ngân hàng đã khởi kiện. Tuy nhiên hiện nay do làm ăn thu nhập không ổn định, hoàn cảnh kinh tế kho khăn nên không có trả cho Ngân hàng một lần. Ông, bà đề nghị Ngân hàng xem xét gia hạn thời hạn trả nợ để trả dần và không tính lãi chậm trả lãi trong hạn. Việc ông, bà có thế chấp các tài sản là 03 thửa đất cho Ngân hàng như trên là đúng. Hiện nay các thửa đất trên thuộc quyền sử dụng của ông, bà.

Phát biểu quan điểm, Kiểm sát viên cho rằng trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ đầy đủ các thủ tục tố tụng cần thiết theo quy định của pháp luật; tại phiên tòa Hội đồng xét xử cũng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng kể từ khi bắt đầu phiên tòa cho đến trước khi nghị án. Về nội dung, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 280, 299, 463, 466, 468, 470, 317, 318, 323 Bộ luật Dân sự; Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc bị đơn phải trả nợ gốc và lãi của hợp đồng tín dụng. Nếu bị đơn không trả được nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị buộc bị đơn phải chịu án phí và xử lý tiền chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Ngân hàng N khởi kiện ông Rơ Châm P và bà Siu B để yêu cầu trả tiền nợ gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng. Ngoài ra Ngân hàng còn yêu cầu Toà án xử lý tài sản thế chấp. Do vậy đây là tranh chấp về Hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Hợp đồng tín dụng số 5005 - LAV - 202000423 ngày 12/02/2020 có nội dung và hình thức phù hợp với quy định tại Điều 463 của Bộ luật dân sự 2015 và Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 nên phát sinh các quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các bên. Khi đến hạn trả nợ ngày 12/02/2022 bị đơn không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho nguyên đơn như đã thỏa thuận là vi phạm về nghĩa vụ trả nợ của bên vay. Sau khi nguyên đơn khởi kiện, bị đơn đã trả được 165.332.000đ tiền nợ gốc, do đó nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả tiền nợ gốc còn lại 134.668.000đ theo hợp đồng tín dụng nói trên là có căn cứ pháp luật.

.Về yêu cầu trả nợ lãi trong hợp đồng tín dụng: Xét sự thỏa thuận về mức lãi suất vay của các bên trong hợp đồng tín dụng nêu trên lãi trong hạn 11%/năm, lãi quá hạn = 150% lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng (trong đó có điều chỉnh giảm lãi suất từ 11%/năm xuống 9,9%/năm từ ngày 15/7/2021 đến hết ngày 31/12/2021) là phù hợp với quy định của Điều 11 Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng và Luật Các tổ chức tín dụng và Bộ luật Dân sự. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn chỉ trả được một phần tiền lãi trong hạn cho nguyên đơn là thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ của bên vay. Tại phiên tòa đại diện nguyên đơn cung cấp bảng tính lãi trong đó có xác định rõ lãi trên nợ gốc trong hạn chưa trả, lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả và lãi chậm trả lãi trong hạn tương ứng với thời hạn vay và trả nợ là phù hợp với quy định của pháp luật.

. Về việc xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất: Các đương sự xác lập hợp đồng thế chấp số 422019/HĐTC ngày 29/01/2019 đối với các quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại xã Ia Bă, huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai. Xét Hợp đồng thế chấp đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng trình tự, thủ tục của pháp luật về giao dịch bảo đảm nên có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng. Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ thể hiện: tài sản thế chấp thuộc quyền sử dụng của bị đơn. Do đó, trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn theo hợp đồng tín dụng nói trên, thì nguyên đơn có quyền yêu cầu xử lý toàn bộ tài sản đã thế chấp (bao gồm cả quyền sử dụng đất và toàn bộ các tài sản gắn liền với đất tại thời điểm xử lý) để thu hồi nợ.

. Tại phiên toà nguyên đơn không chấp nhận việc gia hạn nghĩa vụ trả nợ gốc và không chấp nhận việc không tính lãi chậm trả của tiền lãi trong hạn còn lại cho bị đơn, nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét.

. Về chi phí tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, đại diện Ngân hàng đã tạm nộp tiền chi phí xem xét và thẩm định tại chỗ là 4.500.000đ. Số tiền trên đã chi đủ cho cho công việc thẩm định. Tuy nhiên bị đơn đã trả cho nguyên đơn số tiền này và tại phiên toà không có ai đề nghị hoặc yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đề cập đến nữa.

. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Trả lại cho nguyên đơn toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26 và Điều 266 của Bộ luật tố Tụng dân sự;

Căn cứ các điều 288, 317, 318, 319, 323, 463, 466, 500, 501, 502 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 167 và Điều 168 Luật đất đai năm 2013;

Căn cứ Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N.

2. Ông Rơ Châm P và bà Siu B phải liên đới trả cho Ngân hàng N: tiền nợ gốc còn lại 134.668.000đ, tiền nợ lãi trong hạn còn lại 29.383.562đ, tiền nợ lãi quá hạn 53.928.409đ và tiền nợ lãi chậm trả trong hạn là 3.664.344đ. Tổng cộng nợ gốc và lãi là 221.644.315đ (hai trăm hai mươi mốt triệu sáu trăm bốn mươi bốn nghìn ba trăm mười lăm đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 16/5/2023) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.

3. Trong trường hợp ông Rơ Châm P và bà Siu B không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ không đầy đủ thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xử lý tài sản thế chấp để đảm bảo thi hành án gồm:

Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 82, tờ bản đồ số 51, địa chỉ: xã Ia Bă, huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai, theo giấy CNQSD đất số S 546430 do UBND huyện Ia Grai cấp ngày 19/12/2000.

Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 579, tờ bản đồ số 13, địa chỉ: làng Dun De, xã Ia Bă, huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai, theo giấy CNQSD đất và QSH nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BP 180732 do UBND huyện Ia Grai cấp ngày 20/6/2014.

Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 79, tờ bản đồ số 105, địa chỉ: làng Dun De, xã Ia Bă, huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai, theo giấy CNQSD đất số AO 303777 do UBND huyện Ia Grai cấp ngày 27/11/2008.

4. Về án phí:

Ông Rơ Châm P và bà Siu B phải liên đới chịu 11.082.215đ ( mười một triệu không trăm tám mươi hai nghìn hai trăm mười lăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.

Trả lại cho Ngân hàng N số tiền đã tạm nộp là 8.720.796đ (tám triệu bảy trăm hai mươi nghìn bảy trăm chín mươi sáu đồng) theo biên lai thu số 0008618 ngày 09/8/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ