vanban.org

Bản án 16/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 27/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nông Tiến Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Bị cáo Nông Tiến Đ 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị bắt giam 14/9/2021. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nông Tiến Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nông Tiến Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAO BẰNG
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2022/HSST
Ngày: 27/01/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Hợp

Các hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Văn Hộ

Ông Lưu Danh Thùy

Thư ký phiên tòa: Bà Mã Thị Hoàng Yến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Nông Thị Quỳnh Như - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 01 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2022/HSST ngày 07 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2022/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng đối với bị cáo:

Họ và tên: Nông Tiến Đ; Tên gọi khác: không có; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 04/8/1991 tại thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ 08, phường T, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Dân tộc: Tày; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12 phổ thông; Con ông: Nông Văn N - sinh năm 1964 (đã chết); Con bà: Hoàng Thị T - sinh năm 1963 (trú tại: Tổ 08, phường T, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng); Có 02 anh chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ, con: Không;

Tiền án: Không.

Tiền sự:

Ngày 10/02/2021, Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xử phạt hành chính về hành vi Sử dụng trái phép tài sản;

Ngày 07/7/2021, Công an huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản.

Nhân thân:

Ngày 14/6/2010, Tòa án nhân dân thị xã Cao Bằng (nay là thành phố Cao Bằng), tỉnh Cao Bằng xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng về tội trộm cắp tài sản.

Ngày 24/3/2011, Tòa án nhân dân thị xã Cao Bằng (nay là thành phố Cao Bằng), tỉnh Cao Bằng xử phạt 12 tháng tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tổng hợp với bản án ngày 14/6/2010 là 27 tháng.

Ngày 30/12/2015, Tòa án nhân dân huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng xử phạt 36 tháng tù về Tội buôn lậu.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Cao Bằng từ 14/9/2021 đến nay; Có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng: Sạch Thị Hải Y - sinh năm 1990

Trú tại: Tổ 08, phường H, thành phố Cao Bằng; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 14/9/2021 tại phòng nghỉ 301 Nhà nghỉ Xuân Hồng thuộc tổ 01, phường S, thành phố Cao Bằng, tổ công tác Công an phường Sông Hiến, thành phố Cao Bằng phát hiện Nông Tiến Đ (sinh năm 1991; HKTT: Tổ 08, phường Tân G, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng) và Sạch Thị Hải Y(sinh năm 1990; HKTT: Tổ 08, phường H, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng) đang nghỉ trong phòng. Thu giữ bên trong bao thuốc lá Thăng Long cạnh đầu giường ngủ: 01 (một) gói giấy bạc màu vàng (được bọc bằng nilon màu đen) bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột, có khối lượng 0,78 gam (không phẩy bảy mươi tám gam) (ký hiệu QT 01); 01 (một) gói nilon màu trắng bên trong có chứa tinh thể màu trắng, có khối lượng 0,69 gam (không phẩy sáu mươi chín gam) (ký hiệu QT 02); thu giữ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu xanh đen, trên giường ngủ; số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) trên người Nông Tiến Đ.

Ngày 06/10/2021, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng ra Quyết định trưng cầu giám định số 250 đối với chứng vật vụ án. Tại Bản kết luận giám định số 352/GĐMT ngày 14/10/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong (ký hiệu QT 01) gửi giám định là ma túy, loại Heroine; Chất tinh thể màu trắng bên trong phong bì niêm phong (ký hiệu QT 02) gửi giám định là ma túy loại Methamphetamin”.

Quá trình điều tra xác định: Do bản thân có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 17 giờ ngày 13/9/2021, Nông Tiến Đ một mình đi bộ đến khu vực cổng Bến xe khách mới thuộc tổ 10, phường Đ, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng để tìm mua ma túy. Tại đây, Đ gặp và mua với một người đàn ông không quen biết (khoảng 35 tuổi, dáng giống người nghiện) 500.000 đồng Heroine và 500.000 đồng ma túy đá gồm 01 túi nilon màu trắng chứa ma túy đá, 01 túi nilon màu đen bên trong là lớp giấy bạc màu vàng chứa Heroine.

Sau khi mua được ma túy, Đ cất vào túi quần đang mặc rồi thuê phòng 301 Nhà nghỉ Xuân Hồng tại tổ 01, phường S, thành phố Cao Bằng rồi gọi điện rủ bạn gái là Sạch Thị Hải Y đến ở cùng. Đ tách một phần ma túy đá cho vào coóng sử dụng, do thấy nhạt nên Đ tách lấy một phần Heroine cho vào bơm kim tiêm sử dụng bằng cách chích trực tiếp vào cơ thể. Khoảng 20 giờ cùng ngày, Y đến phòng nghỉ, nhìn thấy Đ đang sử dụng ma túy bằng cách chích vào cơ thể. Trong đêm 13/9/2021, khi Đ đang ngủ, Y thấy trong coóng của Đ còn một ít ma túy đá nên đã tự đốt để sử dụng. Đến khoảng 13 giờ ngày 14/9/2021, tổ công tác Công an phường Sông Hiến đã phát hiện bắt quả tang và thu giữ tang vật.

Quá trình điều tra xác định Sạch Thị Hải Y không biết Nông Tiến Đ cất giấu số ma túy trong phòng nhà nghỉ. Y không góp tiền mua ma túy nên cơ quan điền tra đã ra Quyết định trả tự do đối với Sạch Thị Hải Y.

Hành vi của Nông Tiến Đ đã bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng lập hồ sơ truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015;

Tại bản Cáo trạng số: 05/CT-VKSTP ngày 06/01/2022 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Nông Tiến Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015;

Tại phiên tòa, bị cáo Nông Tiến Đ thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo thừa nhận đã mua 1.000.000đ được 02 gói với 02 chất ma túy là heroine và ma túy đá để sử dụng và đã dùng cả hai loại ma túy tại nhà nghỉ Xuân Hồng. Sạch Thị Hải Y không tham gia và không biết việc bị cáo tàng trữ ma túy và tự ý sử dụng số ma túy còn thừa. Bị cáo không yêu cầu trả lại điện thoại vì không còn giá trị sử dụng.

Bị cáo nhất trí với trọng lượng ma túy bị thu giữ và Bản kết luận giám định số 352/GĐMT ngày 14/10/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng. Bị cáo nhất trí, không khiếu nại, không có ý kiến đối với các hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Đề nghị áp dụng: điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Nông Tiến Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đề nghị xử phạt bị cáo từ 24 (hai mươi tư) đến 30 (ba mươi) tháng tù. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 02 gói ma túy bị thu giữ trong vụ án và 01 điện thoại đã cũ không còn giá trị sử dụng. Trả lại cho bị cáo 2.000.000đ vì không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về án phí và quyền kháng cáo: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, khi nói lời sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Bằng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh:

Tại phiên tòa bị cáo Nông Tiến Đ đã khai nhận về hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản khám xét chỗ ở, đồ vật; Kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Có đủ căn cứ kết luận: Do bản thân nghiện ma túy nên ngày 13/9/2021 Nông Tiến Đ đã mua 1.000.000đ được 01 gói heroine và 01 gói metham phetamin để sử dụng. Sau khi thuê phòng để sử dụng cả 02 loại ma túy, khoảng 12 giờ 20 phút ngày 14/9/2021, Nông Tiến Đ bị Công an phường Sông Hiến phát hiện và bắt quả tang với 0,78g (không phẩy bảy mươi tám gam) Heroine và 0,69g (không phẩy sáu mươi chín gam) Methamphetamine tại phòng 301 Nhà nghỉ Xuân Hồng. Tổng khối lượng hai chất ma túy bị thu giữ là 1,47g (một phẩy bốn mươi bảy gam).

Bị cáo nhận thức được tác hại của chất ma túy, biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về các chất gây nghiện nhưng vì bản thân nghiện ma túy nên để có ma túy sử dụng bị cáo vẫn cố ý tàng trữ 02 loại ma túy có khối lượng 1,47g Methamphetamine. Hành vi của bị cáo Nông Tiến Đ đã đủ các yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng truy tố bị cáo như đã nêu là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tính chất mức độ của hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất nghiêm trọng, tiếp tay cho tệ nạn ma túy và làm phát sinh nhiều tội phạm khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội ở địa phương. Do đó, cần xử lý nghiêm khắc theo quy định của pháp luật.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tại thời điểm phạm tội, bị cáo Nông Tiến Đ có 02 tiền sự: Ngày 10/02/2021, Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xử phạt hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy; Ngày 07/7/2021, Công an huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản.

Ngày 14/6/2010, Tòa án nhân dân thị xã Cao Bằng (nay là thành phố Cao Bằng), tỉnh Cao Bằng xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng về tội trộm cắp tài sản; Ngày 24/3/2011, Tòa án nhân dân thị xã Cao Bằng (nay là thành phố Cao Bằng), tỉnh Cao Bằng xử phạt 12 tháng tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tổng hợp với bản án ngày 14/6/2010 là 27 tháng; Ngày 30/12/2015, Tòa án nhân dân huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng xử phạt 36 tháng tù về tội buôn lậu. bị cáo có nhân thân xấu.

Quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án, bị cáo Nông Tiến Đ thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo”quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về khung hình phạt: Bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy có trọng lượng 0,78g (Không phẩy bảy mươi tám gam) Heroine và 0,69g (Không phẩy sáu mươi chín gam) Methamphetamine, tổng khối lượng 1,47g ma túy nên bị truy tố, xét xử theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về hình phạt: Căn cứ vào nhân thân của bị cáo, khối lượng chất ma túy phạm tội và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù ở mức cao trong khung hình phạt mới đủ nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm về ma túy ở địa phương.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm, không có thu nhập ổn định nên không nhất thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với Sạch Thị Hải Y là bạn gái của Đ không biết Nông Tiến Đ cất giấu số ma túy trong phòng nghỉ, Y không được góp tiền mua ma túy, không đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự nên ngày 14/9/2021, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng ra Quyết định trả tự do đối với Y là phù hợp.

Về xử lý vật chứng, tiền và tài sản tạm giữ: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Đối với 02 (hai) phong bì niêm phong tang vật là ma túy bị thu giữ là chất nhà nước cấm lưu hành; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu xanh đen (điện thoại bàn phím số) đã không còn giá trị sử dụng, không liên quan đến hành vi phạm tội, bị cáo không xin nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy. Số tiền Việt Nam: 2.000.000đ (Hai triệu đồng) do bị cáo lao động mà có, không liên qua đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Sau khi khấu trừ, số tiền còn lại sẽ được trả cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo Nông Tiến Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Các ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tại phiên tòa là đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

1. Tuyên bố: Bị cáo Nông Tiến Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2. Xử phạt: Bị cáo Nông Tiến Đ 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị bắt giam 14/9/2021.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử:

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi tang vật cân “QT1” Nông Tiến Đ (Sinh năm 1991; HKTT: Tổ 08, phường T, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng) có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 14/9/2021. Mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong;

- 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi tang vật cân “QT2” Nông Tiến Đ (Sinh năm 1991; HKTT: Tổ 08, phường T, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng) có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 14/9/2021. Mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong;

(02 phong bì niêm phong tang vật cân trên có kèm Kết luận giám định ma túy số 352/GĐMT ngày 14/10/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng).

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu xanh đen (điện thoại bàn phím số), có số IMEI1 355633048093768, số IMEI2 355633049093775 (số IMEI theo Quyết định vật chứng), điện thoại cũ đã qua sử dụng. Điện thoại không khởi động được nên không kiểm tra được số IMEI;

Trả lại cho bị cáo số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng) tiền Việt Nam trong 01 (một) phong bì niêm phong: Mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong cùng con dấu của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng. Kèm kết luận giám định tiền số 10/KL-CAB, ngày 05/01/2022 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh Cao Bằng. Tạm giữ số tiền trên để đảm bảo thi hành án phí hình sự, sau khi đối trừ, số tiền còn lại sẽ được hoàn trả cho bị cáo.

Xác nhận: Điện thoại, tiền, ma túy là vật chứng của vụ án đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản giao, nhận vật chứng số 37 ngày 06/01/2022.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Buộc bị cáo Nông Tiến Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. /.

Cỡ chữ