- Tranh chấp gì? án hình sự — "KPUIH N ""VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ"" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Kpuih N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN N DÂN HUYỆN Đ TỈNH G | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:16/2022/HSST Ngày 06 tháng 7 năm 2022 |
N DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN N DÂN HUYỆN Đ - TỈNH G
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thanh
- Các Hội thẩm N dân: Bà Phạm Thị Sâm – Cán bộ nghỉ hưu; Bà Võ Thị Lệ
- Phó Hiệu trưởng Trường THPT Lê Hoàn huyện Đ, tỉnh G.
-Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Đoàn Thị Minh Chinh - Cán bộ Tòa án N dân huyện Đ, tỉnh G.
-Đại diện VKSND huyện Đ, tỉnh G tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 7 năm 2022, tại Hội trường xét xử Toà án N dân huyện Đ, tỉnh G xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số:07/2022/HSST ngày 19 tháng 4 năm 2022; quyết định đưa vụ án ra xét xử số:11/2022/QĐXXST-HS ngày 31tháng 5 năm 2022 đối với:
-Bị cáo: Kpuih N - Sinh ngày 27/12/2004, tại Đ, G
Nơi cư trú: Làng G, xã K, huyện Đ, tỉnh G.
Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Jrai
Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không ; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Rơ Lan DJít, sinh năm 1970 và bà Kpuih H’Phy ăn, sinh năm 1973.
Hiện cư trú tại Làng G, xã K, huyện Đ, tỉnh G.
Bị cáo chưa có vợ con
Tiền án: Không; Tiền sự: Không; N thân: Không
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú . ( có mặt)
-Bị hại: Chị Y A, sinh năm 1992, địa chỉ: Thôn Plei Sar, xã Ia Chim, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum ( đã chết)
-Người đại diện hợp pháp của bị hại chị Y A; Ông A Đứt, sinh năm 1974; bà Y Pưm sinh năm 1974 ; ông A Ngui, sinh năm 1990, địa chỉ :Thôn Plei Sar, xã Ia Chim, TP. Kon Tum, tỉnh Kon Tum ( xin vắng mặt)
-Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Rơ Lan Dyít, sinh năm 1970 và bà Kpuih H’Phy ăn, sinh năm 1973, địa chỉ: Làng G, xã K, huyện Đ, tỉnh G. (có mặt)
-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Siu Đoan, sinh năm 1978, địa chỉ: Làng Lung, xã K, huyện Đ, tỉnh G. (xin vắng mặt)
Ông Lê Đình Anh, sinh năm 1994, địa chỉ: Nông trường Cao su Quốc Cường, xã Ia Puch, huyện Chư Prông, tỉnh G.(vắng mặt)
-Người làm chứng: Anh Hoàng Phó Trọng, sinh năm 1992, địa chỉ: Làng Hrang, xã K, huyện Đ, tỉnh G. ( vắng mặt)
-Người bào chữa cho bị cáo: Ông Thiều Hữu Minh – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh G. (có mặt)
- Người phiên dịch tiếng Jơ Rai: Bà Rơ Mah Ha Ru, địa chỉ: Trường THCS Lê Lợi huyện Đ, tỉnh G. ( có mặt)
NHẬN THẤY
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và bản cáo trạng truy tố bị cáo Kpuih N, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Vào chiều ngày 19/9/2021, Kpuih N, trú tại làng G, xã K, huyện Đ, tỉnh G (chưa có giấy phép lái xe mô tô) đi bộ đến nhà bạn gái là Kpuih H’Phin, sinh năm 2006 trú tại làng Lung, xã K, huyện Đ, tỉnh G chơi, lúc này chỉ có một mình Kpuih H’Phin ở nhà. Cả hai ngồi chơi với nhau đến khoảng 19 giờ cùng ngày thì Kpuih H’Phin đi làm việc phía sau nhà, Kpuih N nhìn thấy xe mô tô BKS: 81U1-282.80 của ông Siu Đoan, sinh năm 1978, trú tại làng Lung, xã K, huyện Đ, tỉnh G (là bố đẻ của Kpuih H’Phin) đang dựng trước nhà có cắm sẵn chìa khóa nên N đã điều khiển xe mô tô đi chơi, khi đi qua 01 quán ven đường N nhìn thấy có một số người (không rõ lai lịch) đang ngồi trong quán uống rượu nên N có ghé vào chơi và ngồi uống rượu chung. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày ông Siu Đoan về nhà không thấy xe mô tô đâu nên đã hỏi Kpuih H’Phin. Khi biết xe mô tô trên Kpuih N đang sử dụng thì ông Đoan bảo con gái đi tìm N và nói N đưa xe về. Kpuih H’Phin đi tìm N thì thấy N đang ngồi uống rượu trong quán nên H’Phin yêu cầu N đưa xe về cho bố mình. Sau đó, N điều khiển xe mô tô BKS: 81U1-282.80 đi về trước. Khi đi đến đoạn đường liên huyện thuộc địa phận làng Hrang, xã K, huyện Đ, tỉnh G, do Kpuih N đã uống rượu, khi điều khiển xe lưu thông không chú ý quan sát nên đã tông vào phía sau bên trái của xe mô tô BKS: 36B8-130.97 do Lê Đình Anh, sinh năm 1994, trú tại Nông trường cao su Quốc Cường, xã Ia Puch, huyện Chư Prông, tỉnh G điều khiển chở theo chị Y Đăo, sinh năm 1992, trú tại xã Ia Chim, TP Kon Tum, tỉnh Kon Tum lưu thông cùng chiều, làm cả hai xe bị ngã xuống đường. Hậu quả chị Y Đăo bị thương được đưa đi cấp cứu đến ngày 27/9/2021 thì tử vong.
Vào lúc 21h20’ ngày 19/09/2021 Cảnh sát giao thông Công an huyện Đ đã tiến hành đo nồng độ cồn đối với Kpuih N, kết quả trong hơi thở của Kpuih N có nồng độ cồn là : 0,902 mg/l khí thở.
Tại bản giám định pháp y số: 656/KL-KTHS ngày 27/10/2021 của Phòng Kỷ thuật hình sự Công an tỉnh G. Kết luận nguyên N chết của chị Y Đăo là “do chấn thương sọ não”.
Ngày 05/11/2021, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ có kết luận định giá tài sản số 37, 38 /KL-HĐ, kết luận thiệt hại hư hỏng của xe mô tô không có BKS: 81U1-282.80 giá trị thiệt hại là 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) và của xe mô tô BKS: 36B8 – 130.97, giá trị thiệt hại là 4.500.000 đồng. (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng).
Ngày 25/11/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Kpuih N.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ Kpuih N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
*Kết quả khám nghiệm hiện trƣờng, khám phƣơng tiện liên quan liên quan vụ tai nạn nhƣ sau:
-Kết quả khám nghiệm hiện trường:
Hiện trường xảy ra vụ tai nạn giao thông là đoạn đường nhựa liên xã thuộc thuộc địa phận làng Hrang, xã K, huyện Đ, tỉnh G. Mặt đường trải nhựa rộng 6,9m. Đoạn đường có vạch kẻ tim đường đứt quãng màu vàng phân chia đường thành hai phần đường. Hai bên đường có lề đất rộng 1,5m; tiếp giáp lề đất hai bên là rãnh đất thoát nước (rộng 1,2 m, độ sâu so với mặt đường 0,8m). Tính theo chiều lưu thông từ xã K, huyện Đ đi huyện Chư prông thì đoạn đường xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng, đang xuống dốc, có độ dốc thoải, dài; Hai bên đường có khu dân cư sinh sống, không có chướng ngại vật, không hạn chế tầm nhìn, không có biển báo giao thông.
- Lấy chiều hướng từ xã K, huyện Đ, tỉnh G đi xã Ia Puch, huyện Chư Prông, tỉnh G làm chiều hướng khám nghiệm hiện trường.
- Lấy mép đường phải làm chuẩn để đo đạc, xác định vị trí, khoảng cách các phương tiện và dấu vết để lại trên hiện trường.
- Lấy trụ điện 473ĐCO/91/70 nằm trên hành lang đất bên trái làm điểm mốc hiện trường. Khoảng cách từ điểm mốc hiện trường đến trục bánh trước xe mô tô (4) BKS: 81U1- 282.80 là 11,9m.
Quá trình khám nghiệm phát hiện các dấu vết sau:
-Vị trí số (1):Trên hiện trường, tại phần đường bên phải theo chiều hướng hiện trường phát hiện vết cà xước mặt đường không liên tục diện (17,2 x 0,12)m, kéo dài từ phần đường bên phải và kết thúc trên lề đất bên phải theo chiều hướng hiện trường. Vết (1) có có chiều hướng từ xã K huyện Đ đi xã IaPuch, huyện Chư Prông. Khoảng cách từ đầu vết (1) đến mép đường phải là 1,6m. Cuối vết (1) vào mép đường phải là 0,3m.
-Vị trí số (2): Trên hiện trường, tại phần đường bên trái theo chiều hướng hiện trường để lại vết cày xước mặt đường không liên tục diện (10 x 0,2)m, có độ sâu 0,5cm. Khoảng cách từ đầu vết (2) đến mép đường phải 3,4m, đến đầu vết (1) là 9,6m. Khoảng cách từ cuối vết (2) đến mép đường phải là 5,3m.
-Vị trí số (3):Trên hiện trường, tại phần đường bên phải và lề đường phải phát hiện xe mô tô BKS: 36B8-13097 (3) nằm ngã nghiêng bên trái; Phần đầu xe mô tô (3) nằm trên phần đường phải; đuôi xe mô tô (3) nằm trên lề đất bên phải theo chiều hướng hiện trường. Khoảng cách từ tâm trục bánh trước xe mô tô (3) vào mép đường phải là 0,5m, đến đầu vết cà (1) là 17,9m. Khoảng cách từ tâm trục bánh sau xe mô tô (3) vào mép đường phải là 0,6m. Gác để chân sau bên trái xe mô tô (3) tiếp xúc với điểm cuối của vết cà xước (1).
-Vị trí số (4):Trên hiện trường, tại phần đường bên trái và lề đường trái theo chiều hướng hiện trường phát hiện xe mô tô BKS: 81U1- 282.80 (4) nằm ngã nghiêng bên trái. Đầu xe mô tô (4) nằm trên lề đường và mép đường bên trái; đuôi xe và phần thân sau xe mô tô (4) nằm trên phần đường bên trái. Khoảng cách từ trục bánh trước xe mô tô (4) đến mép đường phải là 6,03m. Khoảng cách từ tâm trục bánh sau xe mô tô (4) đến mép đường phải là 4,93m, đến trục trước xe mô tô (3) là 4,78m; đến đầu vết cày (2) là 10,25m. Giá đỡ gác để chân sau bên trái xe mô tô (4) tiếp xúc với điểm cuối của vết cày (2).
Ngoài ra không phát hiện thêm dấu vết gì.
-Kết quả khám xe mô tô BKS: 81U1-282.80
Xe có chiều dài 169cm; Cao: 111cm; Rộng: 57cm
Tiến hành khám nghiệm phương tiện theo chiều hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới, từ phải qua trái.
Quá trình khám nghiệm phát hiện các dấu vết sau:
+Phần đầu xe, tay lái bị bó cứng lệch về phái bên trái 45o
+Xe không có gương chiếu hậu hai bên;
+Tại phần chân gương bên phải tiếp giáp với tay lái có vết bể vỡ kim loại trong diện (2x1,5)cm;
+Mép dưới bên phải hộp đựng dầu phanh có vết cà khuyết kim loại diện (2x1,5x0,1)cm. vết có chiều hướng từ trên xuống dưới, từ phải qua trái. Toàn bộ cụm hộp dầu phanh và cố định tay phanh bị dịch chuyển về phía bên trái 3cm theo thân tay lái, và xoay về phía trước 90o so với vị trí ban đầu.
+Mặt trước cụm công tắc tín hiệu bên phải có vết cà xước nhựa trong diện (2x1,5)cm. Vết có chiều hướng từ trên xuống dưới, từ phải qua trái.
+Phần nhựa đầu xe ốp đèn chiếu sáng và phần nhựa ốp đồng hồ bị bung hở gờ nối, khoảng hở rộng 4cm. Mặt trên ốp nhựa viền đồng hồ có vết cà xước nhựa trong diện (10x1,5)cm, chiều hướng từ trước ra sau.
+Phần nhựa ốp đèn chiếu sáng có nhiều vết cà xước nhựa trong diện (30x7)cm, vết có chiều hướng từ trước ra sau. Phần nhựa ốp xung quanh đèn tín hiệu phía trước bên trái bị bể vỡ, hở 2,5cm. Mặt kính đèn tín hiệu phía trước bên phải bị cà xước diện (3x5)cm, chiều hướng từ trên xuống dưới, từ trái qua phải. Mặt kính đèn tín hiệu phía trước bên trái có vết cà xước nhựa trong diện (3x2,5)cm, vết có chiều hướng từ sau ra trước.
+Mặt nạ xe có nhiều vết cà xước nhựa trong diện (16x7)cm, vết có chiều hướng từ trên xuống dưới, từ phải qua trái.
+Cánh yếm bên trái không còn tại vị trí định vị.
+Mũi dè chắn bùn phía trước bị cà xước nhựa trong diện (23x10)cm. Chiều hướng từ trước ra sau, từ phải qua trái.
+Phuộc nhún phía trước bị cong vênh, đẩy lùi về phía sau 30o, về phía bên phải 10o
+Bánh xe phía trước bị cố định bưới trục xe (bị bó cứng), không lắc qua lại được. Mũi bánh xe hướng về phái bên trái, lệch so với vị trí ban dầu 60o
+Gác để chân trước bên trái bị cong vệnh theo chiều hướng sau ra trước, từ dưới lên trên, lệch 60o về phía trước, 10o về phía trên.
+Vành xe phía trước. mép vành bên phải có vết cà khuyết kim loại trong diện (18x0,5x0,2)cm. Chiều hướng từ ngoài vào trong. Cách vị trí chân van gần nhất là 14cm về phía trước.
+Mặt bên trái vành xe có vết bễ vỡ diện (18x3)cm. Cách chân van 22cm về phía trước tại vị trí gần nhất.
+Khung đỡ gác để chân sau bên trái bị gãy rời, gác để chân sau bên trái bị mất.
+Ốc định vị phuộc nhún phía sau bên trái có vết cà khuyết kim loại diện (1.5x0.5x0.1)cm, chiều hướng từ sau ra trước.
+Khung nâng sau duôi xe có vết cà khuyết kim loại trong diện (4,5x1x0,2)cm, vết có chiều hướng từ sau ra trước. Khung nâng bị cong vênh, móng méo theo chiều hướng từ sau ra trước, từ trái qua phải.
Ngoài ra không phát hiện thêm dấu vết gì.
-Kết quả khám xe mô tô BKS: 36B8-130.97;
Xe có chiều dài 189cm; rộng 73cm; cao 123cm.
Tiến hành khám nghiệm phương tiện theo chiều hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới, từ phải qua trái.
Quá trình khám nghiệm phát hiện các dấu vết sau:
+Ốp nhựa đầu xe có vết cà xước nhựa trong diện (6,5x4,5)cm, chiều hướng từ phải qua trái, từ trên xuống dưới; Gương chiếu hậu bên trái bị bể vỡ hoàn toàn mặt kính (không còn mặt kính). Phần ốp nhựa bị bể vỡ trong diện (3x2)cm.
+Núm tay cầm tay lái bên trái dính nhiều bùn đất;
+Mép ngoài cùng tay côn có vết cà xước kim loại trong diện (1x1)cm, chiều hướng từ phải qua trái. Trên thân tay côn có bám dính nhiều bùn đất.
+Mặt nạ, cánh yếm bên trái có nhiều vết cà xước nhựa trong diện (50x20)cm, chiều hướng từ phải qua trái, từ trên xuống dưới. Điểm tiếp nối giữa mặt nạ và cánh yếm bên trái bị bung hở 1cm, viền hở có bám dính nhiều bùn đất. Mặt ngoài cánh yếm có dính nhiều bùn đất.
+Bánh xe phía trước bị lệch về phía bên trái 10O so với vị trí ban đầu. Bánh xe bị lệch gập sát vào mũi phía trước bên trái của dè chắn bùn phía trước
+Cần ra vào số cong vênh theo chiều hướng từ trái qua phải, từ sau ra trước, gập sát vào thân xe.
+Gác để chân trước bên trái bị gãy, mất.
+Khung giá đỡ gác chân sau bên trái có vết cà xước kim loại trong diện lần lượt là (2,5x1)cm và (2x1)cm. Chiều hướng từ trước ra sau, từ dưới lên trên.
+Ốp nhựa thân sau bên trái bị cà xước, nứt vỡ trong diện (21x5)cm. Chiều hướng từ trước ra sau, từ dưới lên trên.
+Đèn tín hiệu phái sau bên trái bị lệch, hở tại vị trí tiếp giáp với dè chắn bùn phía sau bên trái 1,3cm. Đèn bị nghiêng theo chiều hướng từ trên xuống dưới, lệch 10o so với vị trí ban đầu. Điểm ngoài cùng của đèn tín hiệu bị cà xước, bám dính bùn đất trong diện (4,5x1)cm.
+Dè chắn bùn bánh xe phía sau bị cà khuyết nhựa trong diện (7x3x0,2)cm, chiều hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới. Dè chăn bùn gập sát vào bánh xe, bị bào mòn (do quá trình bánh xe quay) trong diện (7x1)cm.
+Biển kiểm soát, tại phần mặt kính bên phải bị bể vỡ, cà xước trong diện (16x7,5)cm. Phần mặt kín bên trái bám dính nhiều vết màu đen trong diện (13x6)cm, chiều hướng từ trên xuống dưới, từ phải qua trái.½ biển kiểm soát (bao gồm mặt kính, khung kim loại)phía bên trái bị cong bênh theo chiều hướng từ trước ra sau, lệch so với vị trí ban đầu 20o.
Tại bản cáo trạng số: 09/CT-VKS ngày 19 tháng 4 năm 2022, Viện kiểm sát N dân huyện Đ đã truy tố bị cáo Kpuih N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Kiểm sát viên, đại diện Viện kiểm sát N dân huyện Đ giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo Kpuih N.
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đối với bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng mà có các tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường thiệt hại đầy đủ cho gia đình bị hại; Người đại diện cho bị hại có đơn xin bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; là người dân tộc thiểu số cư trú ở xã đặc biệt khó khăn và gia đình thuộc hộ nghèo.
Với phân tích nhận định trên, đề nghị áp dụng áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260; các Điều 38; 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và các Điều 54; 91; 98; 101 Bộ luật Hình sự:
+Về tội danh: Đề nghị tuyên bố bị cáo Kpuih N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
+Về hình phạt : Đề nghị xử phạt bị cáo Kpuih N từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù, thời gian tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
+Về hình phạt bổ sung: Đề miễn xử phạt bổ sung đối với bị cáo
+Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ việc xảy ra, gia đình bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại với tổng số tiền là 140.000.000đ (một trăm bốn mươi triệu đồng). Gia đình bị hại không có yêu cầu gì thêm. Nên không đề nghị xem xét.
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu: YAMAHA; Số loại: SIRIUS; Màu sơn: 81U1-282.80 bị hư hỏng, thiệt hại 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng). Tuy nhiên ông Siu Đoan là chủ sở hữu của xe mô tô nói trên không có yêu cầu Kpuih N phải bồi thường, nên không đề cập xử lý.
- Đối với phương tiện xe mô tô nhãn hiệu: YAMAHA; Số loại: EXCITER; Màu sơn: Đen; BKS: 36B8-130.97 bị hư hỏng thiệt hại 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng). Tuy nhiên chủ sở hữu hợp pháp của xe mô tô trên là anh Lê Đình Anh không yêu cầu Kpuih N phải bồi thường, nên không đề cập xử lý.
+Về xử lý vật chứng: Qua điều tra, xác định: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu: YAMAHA; Số loại: SIRIUS; Màu sơn: Đen; BKS: 81U1-282.80 là tài sản hợp pháp của của ông Siu Đoan. Do đó, ngày 06/01/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ, tỉnh G đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông Siu Đoan. Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu: YAMAHA; Số loại: EXCITER; Màu sơn: Đen; BKS: 36B8-130.97 là tài sản hợp pháp của anh Lê Đình Anh. Do đó, ngày 20/01/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ, tỉnh G đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Lê Đình Anh. Nên không đề nghị xem xét
+ Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật
-Ngƣời bào chữa cho bị cáo trình bày:
+Về tội danh, điều khoản và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Nhất trí với tội danh, điều khoản, các tình tiết giảm nhẹ như Kiểm sát viên luận tội đối với bị cáo.
+Về hình phạt: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như Kiểm sát viên nêu, nhưng đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 24 (hai bốn) đến 30 (ba mươi) tháng tù là nghiêm khắc đối với bị cáo. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định cho bị cáo được hưởng mức án 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng tù là phù hợp.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về kết luận giám định, kết luận điều tra; quyết định truy tố của Viện kiểm sát; quan điểm luận tội của Kiểm sát viên và quan điểm bào chữa của người bào chữa, mà xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án,căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Vào chiều ngày 19/9/2021, bị cáo Kpuih N (chưa có giấy phép lái xe mô tô) đến nhà chị là Kpuih H’Phin, trú tại làng Lung, xã K, huyện Đ, tỉnh G chơi, sau đó tự ý lấy xe mô tô BKS: 81U1-282.80 của ông Siu Đoan (là bố đẻ của chị Kpuih H’Phin) đi uống rượu. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày N điều khiển xe mô tô BKS: 81U1-282.80 đi về, khi đi đến đoạn đường liên huyện thuộc địa phận làng Hrang, xã K, huyện Đ, tỉnh G đã tông vào phía sau bên trái của xe mô tô BKS: 36B8-130.97 do Lê Đình Anh điều khiển phía sau chở chị Y Đăo lưu thông cùng chiều, làm cả hai xe bị ngã xuống đường. Hậu quả chị Y Đăo bị thương được đưa đi cấp cứu cho đến ngày 27/9/2021 thì tử vong.
Tại bản giám định pháp y số: 656/KL-KTHS ngày 27/10/2021 của Phòng Kỷ thuật hình sự Công an tỉnh G. Kết luận nguyên N chết của chị Y Đăo là do chấn thương sọ não.
Nguyên N dẫn đến vụ tai nạn giao thông là do Kpuih N điều khiển xe mô tô có dung tích xilanh 110cm3 nhưng chưa có giấy phép lái xe đã vi phạm vào khoản 1 Điều 58 Luật giao thông đường bộ, điều khiển xe mô tô khi đã sử dụng chất kích thích có chứa cồn với nồng độ đo được là 0.902mg/l khí thở đã vi phạm Khoản 1 Điều 35 Luật phòng chống tác hại của rượu bia và khi điều khiển xe tham gia giao thông không chú ý quan sát nên đã tông vào phía sau bên trái của xe mô tô do anh Lê Đình Anh điều khiển xe chở theo chị Y Đăo đang lưu thông cùng chiều phía trước, dẫn đến hậu quả chị Y Đăo tử vong.
Do đó Viện kiểm sát N dân huyện Đ, tỉnh G đã truy tố bị cáo Kpuih N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự 2015 là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Hành vi điều khiển xe mô tô không có giấy phép lái xe theo quy định; điều khiển xe trong tình trạng có sử dụng rượu có nồng độ cồn vượt qua mức quy định; không chú ý quan sát đã tông vào phía sau bên trái của xe mô tô do anh Lê Đình Anh điều khiển chở theo chị Y Đăo đang lưu thông cùng chiều phía trước, hậu quả làm chị Y Đăo tử vong.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, xâm hại đến tính mạng của người khác, gây bất bình, lo sợ cho người khác tham gia giao thông. Xét về lỗi trong vụ án này hoàn toàn thuộc về bị cáo. Do đó để góp phần vào việc phòng chống vi phạm trật tự an toàn giao thông nói chung, nên cần thiết phải xử buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cần xem xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho bị cáo.
-Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng.
-Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi vụ việc xảy ra, gia đình bị cáo đã thỏa thuận bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình người bị hại; Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải; Người đại diện hợp pháp của người bị hại đã có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Nên cần giảm nhẹ một phần hình phạt và cho bị cáo được hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo, phù hợp với sự khoan hồng N đạo của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ việc xảy ra, gia đình bị cáo và đại diện gia đình bị hại đã thoả thuận bồi thường thiệt hại với tổng số tiền là 140.000.000đ (Một trăm bốn mươi triệu đồng), đại diện gia đình bị hại không yêu cầu gì thêm. Nên không xem xét.
Đối với thiệt hại về tài sản là liên quan đến vụ án gồm: Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 81U1-282.80 của ông Siu Đoan bị hư hỏng thiệt hại 2.500.000đ và chiếc xe mô tô biển số kiểm soát 36B8-130.97 của anh Lê Đình Anh bị hư hỏng, thiệt hại 4.500.000đ. Tuy nhiên ông Siu Đoan và anh Lê Đình Anh không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường, nên không đề cập xử lý.
Về xử lý vật chứng vụ án: Qua điều tra đã xác định chiếc xe mô tô nhãn hiệu: YAMAHA; Số loại: SIRIUS; Màu sơn: Đen; BKS: 81U1-282.80 là tài sản hợp pháp của của ông Siu Đoan và chiếc xe mô tô nhãn hiệu: YAMAHA; Số loại: EXCITER; Màu sơn: Đen; BKS: 36B8-130.97 là tài sản hợp pháp của anh Lê Đình Anh. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ, tỉnh G đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông Siu Đoan và anh Lê Đình Anh là có căn cứ. Nên không đề cập xử lý.
Xét về tính hợp pháp của hành vi và quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát N dân huyện Đ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, cư trú tại xã đặc biệt khó khăn, thuộc hộ nghèo. Căn cứ Nghị quyết số:326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, cần tuyên miễn toàn bộ án phí hình sự cho bị cáo là phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Kpuih N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”
-Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260; các Điều 38; 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; 54; 91; 98; 101
Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số:326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,
+Xử phạt bị cáo Kpuih N 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
+Miễn toàn bộ 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Kpuih N.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm hôm nay (06/7/2022) bị cáo, người bào chữa kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt, có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình lên Toà án N dân tỉnh G để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Đối với đại diện hợp pháp của bị hại và người liên quan vắng mặt thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận - Công an - VKSND - CQTHADS - CQTHAHS; - TAND tỉnh; - Bị cáo; người liên quan - ĐDHPNBH; - Người bào chữa - Sở tư pháp; - Lưu HS. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |