- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Công Th - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Công Th phạm tội “Đánh bạc”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ T | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 16/2022/HS-ST Ngày: 21/12/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ T, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Thanh Hùng;
2. Ông Nguyễn Hoàng Tam.
Thư ký phiên toà: Ông Trịnh Hữu Lợi - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã T, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Quách Thịnh - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 57/2022/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2022/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 11 năm 2022 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 14/TB-TA ngày 01 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Công Th, sinh ngày 19/10/2000; Nơi sinh: An Giang; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú (chỗ ở hiện nay): Tổ 08, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Công D, sinh năm 1978 và bà Nguyễn Thị Trường G, sinh năm 1980; Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 14/6/2021, bị Công an phường L, thị xã T, tỉnh An Giang xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”. Bị cáo chưa nộp phạt.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án:
- Bà Lê Ngọc T (D), sinh năm 1980, địa chỉ: tổ 08, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang, vắng mặt;
- Bà Võ Thị Th, sinh năm 1963, địa chỉ: tổ 07, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang, vắng mặt.
Người làm chứng: Anh Trương Quốc K, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 40 phút, ngày 22/6/2022, bị cáo Nguyễn Công Th mang theo dụng cụ gồm 01 cây viết mực xanh, 01 cùi giấy tập học sinh cắt nhỏ và 01 tờ giấy scan màu xanh ghi bán số lô đề theo kết quả xổ số kiến thiết Đài truyền hình thành phố Cần Thơ cho Lê Văn Th với số tiền 423.000 đồng, bán số đầu và số lô cho Võ Thị Th số tiền 200.000 đồng, bán số đề cho Lê Ngọc T (D) số tiền 20.000 đồng. Sau đó, bị cáo Th tìm người khác ghi bán số đề thì bị Công an phường L phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng liên quan đến hành vi “Đánh bạc”.
Ngoài ra, bị cáo Th khai nhận: Bị cáo bắt đầu ghi bán số đề trực tiếp ăn thua với người mua từ cách nay đã 03 năm. Cách thức tính tiền đánh bạc khi người chơi mua số đề dựa theo kết quả xổ số kiến thiết các đài Miền Nam: số tiền mua số A (giải tám) và số B (hai số cuối giải đặc biệt) tính là 01 lần, trúng thưởng tỷ lệ nhân 90; số tiền mua lô 02 con (02 số cuối của tất cả các giải) tính nhân với 13, trúng thưởng tỷ lệ nhân 70; số tiền mua lô 03 con (03 số cuối từ giải bảy đến giải đặc biệt) tính nhân với 13, trúng thưởng tỷ lệ nhân 600; số tiền mua lô đá (02 số cuối, có từ 02 số đá với nhau trong 01 bảng giải thưởng) tính 1 nhân với 32 nhân với số vòng đá, trúng thưởng tỷ lệ nhân 700.
Ngày 14/6/2021, bị cáo Th bị Công an phường L, thị xã T, tỉnh An Giang xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi“Đánh bạc”.
Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm:
- 01 (một) cùi giấy tập học sinh cắt nhỏ, có ghi các con số đề theo kết quả xổ số kiến thiết Đài Cần Thơ mở thưởng ngày 22/6/2022, với số tiền 643.000 đồng;
- 01 (một) tờ giấy scan màu xanh (đã qua sử dụng);
- 01 (một) cây viết mực màu xanh, hiệu TL-08 (đã qua sử dụng);
- Tiền Việt Nam: 110.000 đồng (tiền bị cáo thu được bán số đề 79.000 đồng + 31.000 đồng tiền bị cáo dùng vào việc đánh bạc).
Ngày 25/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã T, đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị cáo Nguyễn Công Th về tội “Đánh bạc”.
Cáo trạng số 59/CT-VKSTC ngày 31 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã T đã truy tố bị cáo Nguyễn Công Th về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Ngọc T (D), bà Võ Thị Th; người làm chứng anh Trương Quốc K có lời khai phù hợp với nội dung vụ án đã nêu.
Kiểm sát viên trình bày lời luận tội:
Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa tham gia đánh bạc trái phép dưới hình thức ghi bán số lô đề vào ngày 22/6/2022 là phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cũng như vật chứng được thu giữ cùng các tài liệu, nguồn chứng cứ khác được cơ quan điều tra thu thập và được thẩm tra tại phiên tòa. Bị cáo đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, chưa được xóa tiền sự, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ Luật Hình sự.
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc đánh bạc là vi phạm pháp luật, ảnh hưởng xấu đến trật tự tại địa phương nhưng vẫn cố ý.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Th thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; học lực thấp nên nhận thức pháp luật hạn chế, thuộc thành phần lao động là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử có xem xét khi lượng hình.
Đồng thời, trong thời gian được tại ngoại để điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã chấp hành tốt lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, lệnh triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng; chấp hành đúng chính sách pháp luật tại địa phương, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân; có nơi thường trú cụ thể, rõ ràng. Bản thân bị cáo cũng đang là lao động chính trong gia đình, để nuôi ông nội bị bệnh tai biến. Do đó, không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà chỉ cần giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú, để giám sát, giáo dục, nhằm tạo điều kiện cho bị cáo lao động, phụ giúp gia đình, trở thành người có ích cho xã hội.
Đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Công Th phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Công Th mức án: Từ 09 tháng đến 01 năm tù, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự,
Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 tờ giấy scan màu xanh, đã qua sử dụng; 01 cây bút mực màu xanh hiệu “TL-08”, đã qua sử dụng.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 110.000 đồng.
Lưu hồ sơ vụ án: 01 cùi giấy tập học sinh cắt nhỏ, có ghi các con số đề dựa theo kết quả xổ số kiến thiết của đài Cần Thơ mở thưởng ngày 22/6/2022, với tổng số tiền 643.000 đồng;
Trong phần tranh luận, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, đồng ý theo Quyết định truy tố và quan điểm luận tội của Viện kiểm sát, không có ý kiến khác.
Bị cáo nói lời sau cùng, xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
* Về tố tụng:
Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị cáo Nguyễn Công Th bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã T khởi tố về tội “Đánh bạc” bị bắt quả tang thuộc khu vực tổ 7, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh An Giang.
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại nên về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
Sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Ngọc T (D), bà Võ Thị Th; Người làm chứng anh Trương Quốc K đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Tuy nhiên, đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định vẫn tiến hành xét xử.
* Về nội dung:
Hành vi phạm tội:
Bị cáo Nguyễn Công Th khai nhận, ngày 22/6/2022, bị cáo đến khu vực thuộc tổ 7, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang, bị cáo ghi bán số lô đề cho Lê Văn Th với số tiền 423.000 đồng, bán số đầu và số lô cho Võ Thị Th số tiền 200.000 đồng, bán số đề cho Lê Ngọc T (D) số tiền 20.000 đồng. Sau đó, bị cáo Th tìm người khác ghi bán số đề thì bị Công an phường L phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng liên quan đến hành vi “Đánh bạc”.
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng được cơ quan điều tra thu thập và thẩm tra tại phiên tòa là phù hợp. Ngoài ra, diễn biến, nội dung của vụ án và hành vi mà bị cáo đã thực hiện còn phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 22/6/2022 do Công an phường L lập, cùng vật chứng vụ án được thu giữ và các tài liệu, chứng cứ liên quan khác có trong hồ sơ vụ án.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện.
Đánh bạc là tệ nạn xã hội gây ra nhiều hệ lụy cho gia đình và xã hội. Bên cạnh, xử lý vi phạm hành chính, pháp luật hình sự còn quy định đánh bạc là tội phạm và những người vi phạm sẽ bị áp dụng chế tài nghiêm khắc nhất là hình phạt.
Từ các căn cứ trên có cơ sở xác định, bị cáo đã đánh bạc trái phép dưới hình thức ghi bán số lô, số đề. Bị cáo Th đã bị đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, chưa được xóa tiền sự theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2020 nhưng bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng số 59/CT-VKSTC ngày 31/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã T truy tố hành vi phạm tội đối với bị cáo Nguyễn Công Th là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.
Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bị cáo học lực thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, thuộc thành phần lao động là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt:
- Hình phạt chính: Bị cáo Th có 02 (hai) tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1, các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nơi cư trú rõ ràng; không có tiền án, tiền sự.
Xét, không cần thiết cách ly bị cáo Th với bên ngoài xã hội, có thể để các bị cáo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục. Cho bị cáo Th hưởng án treo.
Gia đình bị cáo Th có trách nhiệm phối hợp với phường L, thị xã T, tỉnh An Giang trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Hình phạt bổ sung: Bị cáo Th thuộc thành phần lao động, hoàn cảnh gia đình khó khăn về kinh tế, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Tiền Việt Nam 110.000 đồng, đây là số tiền liên quan đến việc đánh bạc, xét tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước;
- 01 (một) tờ giấy scan màu xanh (đã qua sử dụng), 01 (một) cây viết mực màu xanh, hiệu TL-08 (đã qua sử dụng) là công cụ dùng vào việc ghi bán số lô đề, xét tịch thu tiêu hủy.
- Lưu hồ sơ vụ án 01 (một) cùi giấy tập học sinh cắt nhỏ, có ghi các con số đề theo kết quả xổ số kiến thiết Đài Cần Thơ mở thưởng ngày 22/6/2022, với số tiền trên phơi 643.000 đồng.
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Điều tra - Công an thị xã T với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã T, ngày 02/11/2022).
Theo điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Những vấn đề khác:
Đối với bà Võ Thị Th, bà Lê Ngọc T đã có hành vi “Đánh bạc” nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp quy định của pháp luật.
Riêng ông Lê Văn Th đã có hành vi “Đánh bạc” nhưng đang bị bệnh tai biến, tinh thần không minh mẫn nên chưa ghi được lời khai, khi nào làm rõ xử lý sau là phù hợp.
Án phí: Bị cáo Th phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Theo điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Công Th phạm tội “Đánh bạc”;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Công Th 09 (chín) tháng tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo;
Thời hạn thử thách của bị cáo Th là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án 21/12/2022 (ngày hai mươi mốt, tháng mười hai, năm hai nghìn không trăm hai mươi hai).
Giao bị cáo Nguyễn Công Th cho Ủy ban nhân dân phường L, thị xã T, tỉnh An Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Gia đình bị cáo Nguyễn Công Th có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường L, thị xã T, tỉnh An Giang trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) tờ giấy can màu xanh (đã qua sử dụng), 01 (một) cây viết mực màu xanh, hiệu TL-08 (đã qua sử dụng);
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: Tiền Việt Nam 110.000 (một trăm mười nghìn) đồng;
- Lưu hồ sơ vụ án 01 (một) cùi giấy tập học sinh cắt nhỏ, có ghi các con số đề theo kết quả xổ số kiến thiết Đài Cần Thơ mở thưởng ngày 22/6/2022, với số tiền trên phơi 643.000 đồng.
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Điều tra - Công an thị xã T với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã T ngày 02/11/2022).
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 333, Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Bị cáo Nguyễn Công Th phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được tính là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Thành viên Hội đồng xét xử
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Nguyễn Thị Thùy Dương |