vanban.org

Bản án 16/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. An Khê, tỉnh Gia Lai Tuyên án 10/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Thái P phạm tội “Tàng tr trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phạm Thái P 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính t ngày bị tạm gi (ngày 16 tháng 12 năm 2021). Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thái Phi tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Thái P phạm tội “Tàng tr trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ A – TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2022/HS-ST
Ngày: 10-6-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A - TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Tứ Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thanh Hải và ông Bùi Sỹ Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Hường, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Huyền Bích, Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2022/TLST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2022/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:

Phạm Thái P, tên gọi khác: Cóc; sinh ngày 04/01/1988 tại A, Gia Lai; nơi cư trú: Tổ 07, phường T, thị xã A, tỉnh Gia Lai; nghề nghi p: Không; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Vi t Nam; con ông Phạm Văn B và bà Trần Thị C; vợ là: Phạm Thị Hoài D đã ly hôn; bị cáo có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm gi t ngày 16/12/2021 đến ngày 25/12/2021 chuyển tạm giam cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Nguyễn H u H, sinh năm 1995; địa chỉ: Tổ 7, phường T, thị xã A, tỉnh Gia Lai; vắng mặt.

2. Trần Thị K, sinh năm 1967; địa chỉ: Tổ 7, phường T, thị xã A, tỉnh Gia Lai; có mặt.

3. Lê Minh Q, sinh năm 1967; địa chỉ: Tổ 7, phường T, thị xã A, tỉnh Gia Lai; có mặt.

- Người làm chứng: Võ Thành X, Nguyễn Ngọc Y và Lê Văn Z.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài li u có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 19 giờ 50 phút ngày 15/12/2021 tại hẻm số 27 Nguyễn Thiếp thuộc Tổ 7, phường T, thị xã A, Công an thị xã A bắt quả tang Phạm Thái P đang tàng tr chất màu trắng dạng tinh thể, P khai là ma túy đá. Khi bắt quả tang Phạm Thái P, Công an thị xã A đã thu gi các vật chứng gồm:

- Thu gi trong túi quần, túi áo của P 02 gói nilon bên trong có chứa chất màu trắng dạng tinh thể, tiến hành niêm phong theo quy định;

- 01 đi n thoại di động hi u Nokia màu đen, số đi n thoại (số sim) 0353029189, số Imel 352891101194542;

- 01 xe mô tô gắn biển kiểm soát 81H3-4468, xe không gương, không có dè chắn bùn, không có bao sên, số khung N5100*02129273*, số máy LC 150FMG*02129062*.

Ngày 16/12/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Thái P thu gi 01 nỏ thủy tinh bị uốn con, 01 đầu phình to, tiến hành niêm phong theo quy định.

Tại Kết luận giám định số 821/KLGĐ ngày 23/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai kết luận:

1. Chất màu trắng, dạng tinh thể trong 02 (hai) gói nilon, trong bì thư ghi “Bì số 01” niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,4285 gam.

2. Chất màu xám, đen bám dính trong đoạn thủy tinh, uốn cong (có một đầu phình to), trong bì thư ghi “Bì số 02” niêm phong gửi giám định là ma túy, loại methamphetamine, do lượng mẫu ít không cân được khối lượng.

Sau khi tiến hành giám định, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai đã đóng gói, niêm phong và giao lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A:

- 0,3606 gam chất màu trắng, dạng tinh thể (loại Methamphetamine) trong 02 (hai) gói nilon thuộc bì thư ghi “Bì số 01” và vỏ bao gói. Tất cả được niêm phong trong bì công văn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai, có đặc điểm: Mặt trước ghi „Bì số 01” và có dòng ch „Số 821/PC09 ngày 23 tháng 12 năm 2021, tại mép dán mặt sau bì công văn có đóng các dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI*PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các ch ký của các ông: Nguyễn Xuân Trường, Võ Đình Tài, Bùi Sĩ Thà.

- 01 (một) đoạn ống thủy tinh, uốn cong, có một đầu phình to thuộc bì thư ghi “Bì số 02” và vỏ bao gói. Tất cả được niêm phong trong bì công văn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai, có đặc điểm: mặt trước ghi „Bì số 02” và có dòng ch “Số 821/PC09 ngày 23 tháng 12 năm 2021”, tại mép dán mặt sau bì công văn có đóng các dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI*PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các ch ký của các ông: Nguyễn Xuân Trường, Võ Đình Tài, Bùi Sĩ Thà.

Ngày 15/12/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A kiểm tra (test) nước tiểu để phát hi n người sử dụng ma túy đối với Phạm Thái P, xác định: Phạm Thái P có sử dụng chất ma túy tại thời điểm kiểm tra.

Về nguồn gốc ma túy, Phạm Thái P khai: Tối ngày 15/12/2021, Phạm Thái P uống rượu cùng với bạn tại Tổ 8, phường An Phú, thị xã A. Khoảng 19 giờ 20 phút cùng ngày, Cao Xuân N, sinh năm 1995, tên thường gọi là Cu em, trú tại Tổ 5, phường T, thị xã A đi n thoại cho P nói N đang ở nhà P và nói P về nhà để N đưa tiền đi mua ma túy về sử dụng, P đồng ý. P điều khiển xe mô tô gắn biển số 81H3-4468 chạy t quán nhậu về nhà tại Tổ 07, phường T, thị xã A để gặp N. N đưa cho P 400.000 đồng nói P đi mua ma túy về sử dụng. P cầm tiền và dùng đi n thoại di động hi u Nokia số thuê bao 0353.029.189 gọi vào số thuê bao 039.8862381 của Nguyễn H u H, sinh năm 1995, tên thường gọi là Sở em, trú tại Tổ 5, phường T, thị xã A hỏi Hải: “có đồ không lấy cho anh hai cái hai?” (tức là hai gói ma túy đá, mỗi gói 200.000đ) thì H đồng ý và nói P đến nhà H lấy ma túy. Sau đó, P điều khiển xe mô tô gắn biển số 81H3-4468 đến nhà H tại Tổ 5, phường T, thị xã A để mua ma túy. Tại đây, H đưa cho P 02 gói nilon bên trong chứa ma túy và P đưa cho H số tiền 400.000đ. Sau khi mua ma túy, P cất 01 gói ma túy vào túi quần và cất 01 gói ma túy vào túi áo khoác rồi điều khiển xe mô tô về nhà. Khi về đến đầu hẻm 27 Nguyễn Thiếp thuộc Tổ 7, phường T, thị xã A thì bị Đội Cảnh sát kinh tế, ma túy Công an thị xã A phối hợp với Công an phường T kiểm tra, bắt quả tang, thu gi các vật chứng có liên quan.

Quá trình điều tra, Phạm Thái P còn khai vào ngày 13/12/2021 Cao Xuân N có đưa cho Phạm Thái P 200.000đ để mua ma túy. Sau đó, Phạm Thái P gặp Nguyễn H u H mua ma túy về cùng với Cao Xuân N sử dụng.

Ngày 16/12/2021, Nguyễn H u H giao nộp: 01 đi n thoại di động hi u Itel màu xanh, model it2171, sim số 0385666330 và 0398862381, số Imel1: 355020117066208 (đã qua sử dụng).

Tại Bản cáo trạng số 10/CT-VKS ngày 13/4/2022 của Vi n kiểm sát nhân dân thị xã A đã truy tố bị cáo Phạm Thái P về tội “Tàng tr trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại di n Vi n kiểm sát nhân dân thị xã A gi nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Thái P phạm tội “Tàng tr trái phép chất ma túy”; đề nghị căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo t 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 0,3606 gam chất màu trắng, dạng tinh thể (loại Methamphetamine) trong 02 (hai) gói nilon thuộc bì thư ghi “Bì số 01” và vỏ bao gói. Tất cả được niêm phong trong bì công văn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai, có đặc điểm: Mặt trước ghi „Bì số 01” và có dòng ch „Số 821/PC09 ngày 23 tháng 12 năm 2021, tại mép dán mặt sau bì công văn có đóng các dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI*PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các ch ký của các ông: Nguyễn Xuân Trường, Võ Đình Tài, Bùi Sĩ Thà.

+ 01 (một) đoạn ống thủy tinh, uốn cong, có một đầu phình to thuộc bì thư ghi “Bì số 02” và vỏ bao gói. Tất cả được niêm phong trong bì công văn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai, có đặc điểm: mặt trước ghi „Bì số 02” và có dòng ch “Số 821/PC09 ngày 23 tháng 12 năm 2021”, tại mép dán mặt sau bì công văn có đóng các dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI*PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các ch ký của các ông: Nguyễn Xuân Trường, Võ Đình Tài, Bùi Sĩ Thà.

+ 01 biển số xe 81H3-4468;

+ 01 sim đi n thoại số 0353029189 trong chiếc đi n thoại di động hi u Nokia màu đen, số Imel 352891101194542 của Phạm Thái P;

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:

+ 01 đi n thoại di động hi u Nokia màu đen, số Imel 352891101194542;

+ Xe mô tô hi u LONCIN, không có gương, không có dè chắn bùn, không có bao sên. Số khung N5100*02129273*, số máy LC150FMG*02129062*.

- Trả lại cho anh Nguyễn H u H 01 đi n thoại di động hi u Itel màu xanh, model it2171, sim số 0385666330 và 0398862381, số Imel1: 355020117066208.

Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa bị cáo Phạm Thái P th a nhận th a nhận đã tàng tr 02 gói ma túy, loại Methamphetamine, với tổng khối lượng 0,4285 gam, mục đích để sử dụng thì bị Công an thị xã A bắt quả tang. Bị cáo th a nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Vi n kiểm sát đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Lời khai của Nguyễn H u H có tại hồ sơ vụ án thể hi n: Nguyễn H u H không th a nhận đã bán ma túy cho Phạm Thái P như lời khai của Phạm Thái P.

Lời khai của anh Lê Minh Q và chị Trần Thị K thể hi n: Chiếc xe mô tô hi u LONCIN, không có gương, không có dè chắn bùn, không có bao sên. Số khung N5100*02129273*, số máy LC150FMG*02129062* là của vợ chồng anh chị, do chị K đứng tên trong Giấy đăng ký mô tô, xe máy. Chiếc xe này vợ chồng anh Q, chị K đã cho Phạm Thái P vào năm 2014. Khi cho vợ chồng anh Q, chị K giao xe và Giấy đăng ký mô tô, xe máy cho Phạm Thái P, hai bên chỉ thống nhất bằng mi ng với nhau chứ không lập văn bản tặng, cho. Vi c Phạm Thái P sử dụng chiếc xe nói trên làm phương ti n để mua ma túy, vợ chồng anh Q, chị K hoàn toàn không biết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài li u có tại hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã A, Điều tra viên, Vi n kiểm sát nhân dân thị xã A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hi n đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến kiến nghị hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hi n đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với các chứng cứ, tài li u có tại hồ sơ vụ án, do đó đã có đủ cơ sở xác định: Bị cáo Phạm Thái P là người có năng lực trách nhi m hình sự, bị cáo nhận thức rõ hành vi tàng tr trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm. Vào ngày 15/12/2021, Phạm Thái P có hành vi tàng tr 02 gói ma túy, loại Methamphetamine, với tổng khối lượng 0,4285 gam, mục đích để sử dụng thì bị Công an thị xã A bắt quả tang. Do đó đã có đủ cơ sở tuyên bố bị cáo Phạm Thái P phạm tội “Tàng tr trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, đặc điểm về nhân thân cũng như tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mới có đủ tác dụng giáo dục và răn đe.

Về hình phạt bổ sung: Xét Phạm Thái P là đối tượng nghi n ma túy, không có nghề nghi p ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Quá trình điều tra bị cáo Phạm Thái P khai nguồn gốc ma túy là do P mua của Nguyễn H u H hai lần vào các ngày 13/12/2021 và ngày 15/12/2021. Trên cơ sở lời khai của P Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A tiến hành kiểm tra, xác minh làm vi c với Nguyễn H u H nhưng H không th a nhận vi c bán ma túy cho P như khai nhận của P. Ngoài lời khai duy nhất của P thì không còn tài li u, chứng cứ nào khác chứng minh Nguyễn H u H có hành vi bán trái phép chất ma túy cho P nên không đủ căn cứ, xử lý đối với Nguyễn H u H về hành vi mua bán trái phép chất ma túy.

Ngoài ra, quá trình điều tra Phạm Thái P khai nguồn gốc số tiền 400.000 đồng sử dụng mua ma túy vào ngày 15/12/2021 và số tiền 200.000 đồng mua ma túy vào ngày 13/12/2021 là của Cao Xuân N đưa cho P đi mua ma túy để sử dụng chung. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A đã tiến hành xác minh nhân thân, lai lịch đối tượng Cao Xuân N, sinh năm 1995, trú tại Tổ 7, phường T, thị xã A. Tuy nhiên hi n nay Cao Xuân N không có mặt tại địa phương, không tri u tập lấy lời khai của N được nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A tiếp tục kiểm tra, xác minh xử lý sau.

Về xử lý vật chứng:

Đối với các vật chứng gồm:

- 0,3606 gam chất màu trắng, dạng tinh thể (loại Methamphetamine) trong 02 (hai) gói nilon thuộc bì thư ghi “Bì số 01” và vỏ bao gói. Tất cả được niêm phong trong bì công văn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai, có đặc điểm: Mặt trước ghi „Bì số 01” và có dòng ch „Số 821/PC09 ngày 23 tháng 12 năm 2021, tại mép dán mặt sau bì công văn có đóng các dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI*PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các ch ký của các ông: Nguyễn Xuân Trường, Võ Đình Tài, Bùi Sĩ Thà.

- 01 (một) đoạn ống thủy tinh, uốn cong, có một đầu phình to thuộc bì thư ghi “Bì số 02” và vỏ bao gói. Tất cả được niêm phong trong bì công văn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai, có đặc điểm: mặt trước ghi „Bì số 02” và có dòng ch “Số 821/PC09 ngày 23 tháng 12 năm 2021”, tại mép dán mặt sau bì công văn có đóng các dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI*PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các ch ký của các ông: Nguyễn Xuân Trường, Võ Đình Tài, Bùi Sĩ Thà.

- 01 biển số xe 81H3-4468;

- 01 sim đi n thoại số 0353029189 trong chiếc đi n thoại di động hi u Nokia màu đen, số Imel 352891101194542 của Phạm Thái P;

Xét thấy không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 đi n thoại di động hi u Nokia màu đen, số Imel 352891101194542, bị cáo sử dụng để liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước;

Đối với xe mô tô hi u LONCIN, không có gương, không có dè chắn bùn, không có bao sên. Số khung N5100*02129273*, số máy LC150FMG*02129062* mặc dù chưa làm thủ tục sang tên nhưng vợ chồng anh Hùng, chị Hà đã cho bị cáo t năm 2014. Bị cáo sử dụng chiếc xe này làm phương ti n để mua ma túy nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với 01 đi n thoại di động hi u Itel màu xanh, model it 2171, sim số 0385666330 và 0398862381, số Imel1: 355020117066208 của Nguyễn H u H, không liên quan đến vụ án nên trả lại cho Nguyễn H u H.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 260; khoản 1 Điều 268; khoản 1 Điều 292; khoản 1 Điều 299; khoản 1, điểm a, điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Phạm Thái P phạm tội “Tàng tr trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phạm Thái P 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính t ngày bị tạm gi (ngày 16 tháng 12 năm 2021).

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 0,3606 gam chất màu trắng, dạng tinh thể (loại Methamphetamine) trong 02 (hai) gói nilon thuộc bì thư ghi “Bì số 01” và vỏ bao gói. Tất cả được niêm phong trong bì công văn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai, có đặc điểm: Mặt trước ghi „Bì số 01” và có dòng ch „Số 821/PC09 ngày 23 tháng 12 năm 2021, tại mép dán mặt sau bì công văn có đóng các dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI*PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các ch ký của các ông: Nguyễn Xuân Trường, Võ Đình Tài, Bùi Sĩ Thà.

+ 01 (một) đoạn ống thủy tinh, uốn cong, có một đầu phình to thuộc bì thư ghi “Bì số 02” và vỏ bao gói. Tất cả được niêm phong trong bì công văn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai, có đặc điểm: mặt trước ghi „Bì số 02” và có dòng ch “Số 821/PC09 ngày 23 tháng 12 năm 2021”, tại mép dán mặt sau bì công văn có đóng các dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI*PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các ch ký của các ông: Nguyễn Xuân Trường, Võ Đình Tài, Bùi Sĩ Thà.

+ 01 biển số xe 81H3-4468;

+ 01 sim đi n thoại số 0353029189 trong chiếc đi n thoại di động hi u Nokia màu đen, số Imel 352891101194542 của Phạm Thái P;

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:

+ 01 đi n thoại di động hi u Nokia màu đen, số Imel 352891101194542;

+ Xe mô tô hi u LONCIN, không có gương, không có dè chắn bùn, không có bao sên. Số khung N5100*02129273*, số máy LC150FMG*02129062*.

- Trả lại cho anh Nguyễn H u H: 01 đi n thoại di động hi u Itel màu xanh, model it2171, sim số 0385666330 và 0398862381, số Imel1: 355020117066208.

(Đặc điểm, tình trạng vật chứng cụ thể như biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/4/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A và Chi cục thi hành án dân sự thị xã A).

Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Thái P phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể t ngày tuyên án (10/6/2022) bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử theo trình tự phúc thẩm. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể t ngày nhận được bản án hoặc kể t ngày bản án được tống đạt hợp l .

Cỡ chữ