vanban.org

Bản án 16/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 8, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 17/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đặng H ng V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; các bị cáo Đoàn Trọng K và Phạm Xu n Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Đặng H ng V 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù t nh từ ngày 03/6/2021. Phạt bị cáo Đặng H ng V số tiền 5.000.000 (năm triệu) đ ng nộp vào ng n sách Nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "16. Đặng Hồng V và đp 251 249 - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng H ng V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; các bị cáo Đoàn Trọng K và Phạm Xu n Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố t ng hình sự trả lại; Điều 106 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2022/HS-ST
Ngày 17 - 01 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phúc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Thanh Tùng

2. Ông Nguyễn Quốc Hưng

- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Quốc Thái – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 01 năm 2022 tại tr s Tòa án nh n d n Quận 8 Thành phố H Ch Minh xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự sơ thẩm th lý số: 180/2021/TLST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 276/2021/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2021 đối với các bị cáo:

1. Đặng H ng V; sinh năm 1991 tại Thành phố S; nơi cư trú: 23/40 HTB Phường B, Quận 8 Thành phố H Ch Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; d n tộc: Kinh; giới t nh: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đình C và Đặng H ng M; có ch ng Nguyễn Văn T (chết) và 01 con sinh năm 2010; tiền án tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 03/6/2021 đến nay. (có mặt)

2. Đoàn Trọng K; sinh năm 1995 tại tỉnh H; nơi cư trú: Thôn TT, xã KH, huyện HS tỉnh HT; nghề nghiệp: Chạy xe ôm; trình độ học vấn: 12/12; d n tộc: Kinh; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn P và bà Bùi Thị H; vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 19/3/2021 đến nay. (có mặt)

3. Phạm Xu n Đ; sinh năm 1993 tại tỉnh H; nơi cư trú: Thôn TH, xã TMH, huyện HS tỉnh HT; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; d n tộc: Kinh; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Xu n S và bà Trần Thị H1; vợ con: Chưa có; tiền án tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 19/3/2021 đến nay. (có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Đặng H ng M sinh năm 1971; nơi cư trú: 23/40 HTB, Phường B Quận 8 Thành phố H Ch Minh. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong h sơ v án và diễn biến tại phiên tòa nội dung v án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 20 giờ 00 phút, ngày 19/3/2021 Tổ tuần tra Phòng cảnh sát hình sự - Công an Thành phố H Chí Minh (Đội 3-PC02) tuần tra đến trước số 122/120A đường TQB, Phường B, Quận 8 Thành phố H Ch Minh thì phát hiện Đoàn Trọng K điều khiển xe gắn máy biển số 25B1-517.48 ch Phạm Xu n Đ do cả hai có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy nên Công an yêu cầu dừng xe kiểm tra. Nhìn thấy Công an Phạm Xu n Đ liền ném xuống đất 01 bao thuốc lá hiệu Jet (bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu) nhưng bị Công an phát hiện Đ khai tinh thể không màu là ma túy của Đ nhờ Đoàn Trọng K mua để sử d ng chung. Công an thu giữ ma túy và đưa cả hai về tr s Công an Phường 4 Quận 8 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra Công an còn tạm giữ của K 02 điện thoại di động và 01 xe gắn máy biển số 25B1-517; tạm giữ của Đ 01 điện thoại di động. V việc được chuyển đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 8 để điều tra, làm rõ.

Tại Kết luận giám định số 1907/KLGĐ-H ngày 26/3/2021, Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an thành phố H Ch Minh kết luận: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon trong suốt (để trong 01 vỏ bao thuốc lá màu trắng hiệu Jet) được niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Phạm Xu n Đ, Đoàn Trọng K và hình dấu Công an Phường 4 Quận 8 là ma túy thể rắn có khối lượng là 1,5205 gam loại Methamphetamine.

Đoàn Trọng K khai được Phạm Xu n Đ nhờ mua ma túy để cả hai sử d ng chung nên K đã liên hệ Đặng H ng V và mua của V 01 gói ma túy tổng hợp vào ngày 19/3/2021. Từ lời khai của Đoàn Trọng K, qua truy xét, vào lúc 16 giờ ngày 31/5/2021, tại khách sạn DT (số 81 đường X Khu d n cư HL, Ấp F, xã BH huyện Bình Chánh), Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 8 phối hợp cùng Công an xã Bình Hưng huyện Bình Chánh phát hiện và mời Đặng H ng V về tr s để làm rõ ngu n gốc số ma túy. Tại cơ quan điều tra V thừa nhận có bán cho Đoàn Trọng K 01 gói ma túy vào ngày 19/3/2021 nên Công an lập h sơ điều tra đối với V và tạm giữ của V 01 điện thoại di động hiệu Vivo gắn sim số 0782.465.788 01 xe gắn máy biển số 59H1-333.95.

Quá trình điều tra Đặng H ng V, Đoàn Trọng K và Phạm Xu n Đ khai nhận: V là người nghiện ma túy thông qua bạn nghiện giới thiệu nên V và K quen biết nhau. V cho K số điện thoại 0782.465.788 và K cho V số điện thoại 0886.733.660 để kết bạn liên lạc qua mạng xã hội Zalo.

Đoàn Trọng K và Phạm Xu n Đ là bạn bè học chung và cùng quê tại huyện HS tỉnh HT cả hai đều nghiện ma túy. Khoảng 14 giờ ngày 19/3/2021, Phạm Xu n Đ từ HT vào Thành phố H Ch Minh để chuẩn bị xuất cảnh sang Campuchia xuất khẩu lao động. Sau khi thuê khách sạn tại thành phố TĐ, Đ điện thoại cho K nhờ K ch Đ sang nhà người quen tại Quận 5 để giải quyết công việc. Vào khoảng 17 giờ cùng ngày, Đ đưa cho K số tiền 1.000.000 đ ng và nói K tìm mua ma túy tổng hợp về cả hai cùng sử d ng. K đ ng ý sau đó K dùng điện thoại di động gắn sim số 0886.733.660 gọi đến tài khoản zalo của Đặng H ng V hỏi mua 1.000.000 đ ng ma túy đá, V đ ng ý bán và hẹn giao ma túy tại khu vực trước Bệnh viện Y, Phường 4 Quận 8.

Thỏa thuận mua bán ma túy xong, V thuê xe ôm đi đến một đường hẻm (không rõ số) trên đường CMTT Quận 3, gặp và mua 01 gói ma túy tổng hợp với giá 900.000 đ ng của một người đàn ông tên T1 (không rõ lai lịch). V mang ma túy về nhà sử d ng một phần nhỏ phần còn lại V cất giữ trong người để bán lại cho K. Đến khoảng 19 giờ 45 phút, cùng ngày 19/3/2021, K điều khiển xe gắn máy biển số 25B1-517.48 ch Đ đến trước cổng bệnh viện Y r i nói Đ xuống xe đứng chờ; còn K một mình điều khiển xe đến đường 84 CL, Phường B Quận 8 gặp V mua ma túy. Mua được ma túy, K quay lại chỗ Đ và đưa gói ma túy cho Đ cất giữ, r i cả hai đi tìm địa điểm để sử d ng ma túy. Vào khoảng 20 giờ, ngày 19/3/2021, khi K điều khiển xe ch Đ đi đến trước số 122/120A đường TQB, Phường B, Quận 8 thì bị Công an phát hiện bắt quả tang như trên. Quá trình điều tra xác định đ y là lần đầu tiên Đặng H ng V bán ma túy cho Đoàn Trọng K.

Việc tạm giữ và xử lý vật chứng:

- 01 điện thoại di động hiệu Vivo gắn sim số 0782.465.788 tạm giữ của Đặng H ng V và 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng gắn sim số 0886.733.660 tạm giữ của Đoàn Trọng K là phương tiện dùng liên lạc mua bán ma túy.

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung tạm giữ của Đoàn Trọng K và 01 điện thoại di động hiệu Iphone tạm giữ của Phạm Xu n Đ không dùng vào việc phạm tội.

- Xe gắn máy biển số 59H1-333.95 tạm giữ của Đặng H ng V do chị Nguyễn Phương A (sinh năm 1984 hộ khẩu thường trú tại số 206/9 đường NB Phường H Quận 5) đứng tên đăng ký nhưng hiện nay chị A đã bán nhà đi khỏi địa phương đi đ u không rõ. V khai mượn xe của mẹ là bà Đặng H ng M bà M mua xe từ một người ph nữ (không rõ lai lịch) vào tháng 4/2021 với giá 6.000.000 đ ng nhưng không làm giấy tờ mua bán theo quy định pháp luật. Ngày 01/8/2021 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 8 có văn bản đăng tin tìm chủ s hữu người quản lý hợp pháp của xe gắn máy biển số 59H1-333.95 nhưng chưa có kết quả.

- Xe gắn máy biển số 25B1-517.48 tạm giữ của Đoàn Trọng K do anh Bùi Anh Đ1 (sinh năm 1985; cư trú tại số 249 đường BQ, Phường HT, quận Bình Thạnh) đứng tên đăng ký. Vào khoảng tháng 02/2021, anh Đ1 cho em họ là Đoàn Trọng K mượn xe sử d ng làm phương tiện chạy xe ôm công nghệ việc K dùng xe đi mua ma túy anh Đ1 không biết. Ngày 11/8/2021, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại xe gắn máy biển số 25B1-517.48 cho anh Đ1.

Tại bản Cáo trạng số 195/CT-VKS ngày 15/11/2021, Viện kiểm sát nh n d n Quận 8, Thành phố H Ch Minh truy tố bị cáo Đặng H ng V về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); truy tố các bị cáo Đoàn Trọng K và Phạm Xu n Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nh n d n Quận 8 Thành phố H Ch Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo. Sau khi ph n t ch đánh giá t nh chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội Viện kiểm sát đề nghị Hội đ ng xét xử áp d ng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Đặng H ng V từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng tù; phạt bổ sung bị cáo số tiền từ 5.000.000 đ ng đến 10.000.000 đ ng; áp d ng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Đoàn Trọng K từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù và xử phạt bị cáo Phạm Xu n Đ từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; không áp d ng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo K Đ. Về xử lý vật chứng đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của các bị cáo; tịch thu nộp ng n sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Vivo tạm giữ của bị cáo V và 01 điện thoại di động hiệu Iphone tạm giữ của bị cáo K do có sử d ng liên lạc mua bán ma túy; trả lại bị cáo Đức 01 điện thoại di động hiệu Iphone trả lại bị cáo K 01 điện thoại di động hiệu Samsung do không liên quan đến hành vi phạm tội. Tiếp t c đăng tin tìm chủ s hữu người quản lý hợp pháp của xe gắn máy biển số 59H1-333.95 theo quy định pháp luật.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận; các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án căn cứ vào các tài liệu trong h sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa Hội đ ng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra Công an Quận 8 Điều tra viên Viện kiểm sát nh n d n Quận 8 Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự thủ t c quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng người tiến hành tố t ng. Do đó các hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận hành vi phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong h sơ v án xác định: Vào lúc 20 giờ ngày 19/3/2021 tại trước số 122/120A đường TQB Phường B Quận 8 Thành Phố H Ch Minh bị cáo Phạm Xu n Đ có hành vi cất giữ trái phép 1 5205 gam ma túy thể rắn loại Methamphetamine m c đ ch sử d ng thì bị phát hiện bắt quả tang. Qua điều tra xác định số ma tuý này do Đ nhờ bị cáo Đoàn Trọng K mua từ bị cáo Đặng H ng V với giá 1.000.000 đ ng vào ngày 19/3/2021. Bị cáo Đ là người góp tiền còn bị cáo K là người trực tiếp liên hệ mua ma túy từ bị cáo V.

Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) quy định về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như sau:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

…

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…”

Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) quy định về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” như sau:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

…

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…”

Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện hành vi với lỗi cố ý đã x m phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy và an toàn xã hội. Như vậy Hội đ ng xét xử có căn cứ xác định hành vi của bị cáo Đặng H ng V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); hành vi của các bị cáo Đoàn Trọng K và Phạm Xu n Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xét t nh nghiêm trọng của tội phạm mà các bị cáo đã thực hiện cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cải tạo giáo d c các bị cáo tr thành người có ch có ý thức tu n theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống ngăn ngừa phạm tội mới; đ ng thời phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trong xã hội.

Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là có cơ s đúng người đúng tội. Mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp d ng đối với các bị cáo là phù hợp tương xứng với t nh chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nên có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên trong quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; các bị cáo có nh n th n tốt phạm tội lần đầu nên Hội đ ng xét xử áp d ng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với các bị cáo.

Về hình phạt bổ sung xét thấy hành vi của bị cáo Đặng H ng V là nhằm m c đ ch thu lợi bất ch nh nên cần áp d ng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Hành vi của các bị cáo Đoàn Trọng K và Phạm Xu n Đ không nhằm m c đ ch thu lợi bất ch nh, đ ng thời theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy các bị cáo là lao động tự do thu nhập không ổn định điều kiện kinh tế còn khó khăn nên Hội đ ng xét xử không áp d ng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo K và Đ.

Hành vi phạm tội của các bị cáo Đoàn Trọng K và Phạm Xu n Đ có t nh chất đ ng phạm nhưng chỉ mang t nh nhất thời giản đơn. Bị cáo Đ là người góp tiền bị cáo K là người trực tiếp liên hệ mua ma tuý từ bị cáo V. Do đó Hội đ ng xét xử căn cứ vào Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) để xem xét quyết định hình phạt phù hợp với t nh chất vai trò của từng bị cáo.

Về vật chứng v án quá trình điều tra thu giữ số ma túy trong gói niêm phong số 1907/2021-538/2021(Q8) xét đ y là vật cấm tàng trữ lưu hành nên Hội đ ng xét xử căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố t ng hình sự tịch thu tiêu hủy.

01 điện thoại di động hiệu Iphone tạm giữ của bị cáo K và 01 điện thoại di động hiệu Vivo tạm giữ của bị cáo V xét các bị cáo có sử d ng liên lạc mua bán ma túy nên căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố t ng hình sự tịch thu nộp ng n sách Nhà nước.

01 điện thoại di động hiệu Samsung tạm giữ của bị cáo K và 01 điện thoại di động hiệu Iphone tạm giữ của bị cáo Đ, xét là tài sản cá nh n của các bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố t ng hình sự trả lại cho các bị cáo.

Qua xác minh xe gắn máy biển số 59H1-333.95 tạm giữ của bị cáo Đặng H ng V do chị Nguyễn Phương A (sinh năm 1984 hộ khẩu thường trú tại số 206/9 đường NB Phường H Quận 5) đứng tên đăng ký nhưng hiện nay chị A đã bán nhà đi khỏi địa phương đi đ u không rõ. V khai mượn xe của mẹ là bà Đặng H ng M bà M mua xe từ một người ph nữ (không rõ lai lịch) vào tháng 4/2021 với giá 6.000.000 đ ng nhưng không làm giấy tờ mua bán theo quy định pháp luật. Cơ quan điều tra đã có văn bản đăng tin tìm chủ s hữu hợp pháp của xe nhưng chưa có kết quả. Do đó để bảo đảm quyền lợi cho những người liên quan đến xe này cần tiếp t c đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ s hữu người quản lý hợp pháp của xe trên trong thời hạn 01 năm hết thời hạn trên không có người nhận hợp pháp thì trả lại cho bà Đặng H ng M là người quản lý sử d ng chiếc xe này và xe không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo V. Trường hợp có tranh chấp liên quan đến quyền s hữu xe thì các bên có quyền kh i kiện yêu cầu Tòa án giải quyết theo trình tự tố t ng án d n sự.

Đối với người đàn ông tên Tuấn bán ma túy cho bị cáo V do không xác định được lai lịch Cơ quan điều tra không có cơ s xử lý nên Hội đ ng xét xử không xem xét trong v án này.

Về án ph hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội, các bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Đặng H ng V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; các bị cáo Đoàn Trọng K và Phạm Xu n Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

- Căn cứ vào khoản 1 khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Đặng H ng V 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù t nh từ ngày 03/6/2021.

Phạt bị cáo Đặng H ng V số tiền 5.000.000 (năm triệu) đ ng nộp vào ng n sách Nhà nước.

- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Đoàn Trọng K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù t nh từ ngày 19/3/2021.

Xử phạt bị cáo Phạm Xu n Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù t nh từ ngày 19/3/2021.

- Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố t ng hình sự; các điều 221 228 của Bộ luật D n sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có ghi ký hiệu 1907/2021-538/2021 (Q8), các chữ ký ghi tên Phạm Xu n Đ, Đoàn Trọng K hình dấu Công an Phường 4 Quận 8 và chữ ký giám định viên Võ Anh T2.

Tịch thu nộp ng n sách Nhà nước:

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng gắn sim số 0886.733.660; số Imei: Không có. (không kiểm tra được tình trạng máy móc điện tử bên trong).

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh t m đen gắn sim số 0782.465.788; số Imei: Không có (không kiểm tra được tình trạng máy móc điện tử bên trong).

Trả lại bị cáo Đoàn Trọng K: 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu đen gắn sim số 0769.424.065; số Imei: 355045113921411 (không kiểm tra được tình trạng máy móc điện tử bên trong).

Trả lại bị cáo Phạm Xu n Đ: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu bạc gắn sim số 0763.152.779; số Imei: 359311069575585 (không kiểm tra được tình trạng máy móc điện tử bên trong).

Tiếp t c tạm giữ và đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng thời hạn 01 năm tìm chủ s hữu người quản lý hợp pháp của 01 (một) xe gắn máy biển số 59H1-333.95, số máy M661M – 12593 số khung: V-010812 nếu hết thời hạn trên không có người nhận hợp pháp thì trả lại bà Đặng H ng M.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/9/2021).

- Căn cứ vào các điều 135 136 của Bộ luật Tố t ng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội.

Buộc mỗi bị cáo Đặng H ng V, Đoàn Trọng K và Phạm Xu n Đ nộp 200.000 đ ng án ph hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo đến v án có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa v liên quan đến v án có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi nghĩa v của mình trong hạn 15 ngày t nh từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ