- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2022/HS-ST Ngày: 26/01/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, TP ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Cúc
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Trung Nam
2. Ông Nguyễn Tý
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phan Khánh Vi - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Bà Phạm Ái Linh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 135/2021/TLST-HS ngày 30/11/2021; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2021/QĐXXST- HS ngày 11 tháng 01 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. NGUYỄN THANH M, tên gọi khác: Không, sinh ngày 02/02/1989 tại tỉnh Q; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn K, xã T, huyện P, tỉnh Q; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông. Trình độ văn hóa: 12/12. Con ông Nguyễn Văn H1 (sinh năm: 1955) và bà Mai Thị Đ (sinh năm: 1957) đều còn sống. Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ ba. Vợ: Nguyễn Phạm Minh H2 (sinh năm: 1993), có 01 con sinh năm 2015.
Tiền án, tiền sự: Chưa.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 07/8/2021. Có mặt tại phiên toà.
2. PHAN VĂN H, tên gọi khác: Không, sinh ngày 25/10/1995 tại tỉnh T; Nơi đăng ký HKTT: Thôn V, xã H, huyện H, tỉnh T; Chỗ ở hiện nay: K482/80 đường H, thành phố Đ. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông. Trình độ học vấn: Lớp 10/12. Cha: Không rõ. Mẹ: Phan Thị T (sinh năm: 1961), còn sống. Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai.
Tiền án, tiền sự: Chưa.
Bị cáo bị tạm giữ/tạm giam ngày 07/8/2021. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
3. HÀ PHƯỚC C, tên gọi khác: Không, sinh ngày 19/8/1976 tại thành phố Đ; Nơi đăng ký HKTT: Tổ 20 phường V, quận T, thành phố Đ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Buôn bán. Trình độ học vấn: Lớp 12/12. Con ông Hà Phú H3 (sinh năm: 1952) và bà Đặng Thị C1 (sinh năm: 1957) đều còn sống. Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ nhất.
Tiền án: Tại Bản án số 54/2020/HSST ngày 28/7/2020, Tòa án nhân quận H Châu xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS; chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/5/2021.
Tiền sự: Chưa.
Nhân thân: Năm 2002, 2003, 2008, 2012, đi tập trung cai nghiện tại Trung tâm giáo dục dạy nghề 05-06 theo các Quyết định số 775/QĐ-LĐTBXH ngày 25/11/2002, Quyết định số 3297/QĐ-UB ngày 29/5/2003, Quyết định số 8207 ngày 07/10/2008, Quyết định số 7800/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 07/8/2021. Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Phạm Minh N , sinh năm 1983; Địa chỉ: K342/68 H, phường H, quận L, thành phố Đ . (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn Bến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 07/8/2021, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Nguyễn Thanh M điều khiển xe mô tô Vision màu xanh, Bển số 43F1-3…. từ nhà ở tỉnh Q ra thành phố Đà Nẵng để mua ma túy đá. Khoảng 13 giờ cùng ngày, khi đến cầu vượt ngã ba Huế, thành phố Đà Nẵng thì M liên lạc nhờ Phan Văn H mua giúp 02 hộp 10 và 01 hộp 5 ma túy đá rồi cùng sử dụng nên H đồng ý giúp, liên lạc cho một người đàn ông tên N (không rõ nhân thân, lai lịch) thì N nhờ lại Hà Phước C giúp H mua ma túy. Sau đó, C liên lạc cho một người đàn ông tên B (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua giúp ma túy đá cho M và hẹn giao dịch tại kiệt trên đường H. Đến khoảng 18 giờ 30 cùng ngày, M điều khiển xe đến kiệt 482 H, thành phố Đ để đón H rồi đến kiệt 65 H, thành phố Đ đón C để chở C cùng đi mua ma túy. Khi đến nơi, H và M đi vào trong kiệt gặp B để mua ma túy, còn C đứng phía ngoài. M là người trực tiếp giao dịch mua 04 gói ma túy đá với giá 10.500.000 đồng, cất vào túi quần phía trước bên trái M đang mặc rồi điều khiển xe mô tô chở H và C đi về.
Đến 21 giờ cùng ngày, M chở H và C đến trước số nhà 45 đường Đ, phường Vĩnh Trung, quận Thanh Khê thì bị lực lượng 911 Công an thành phố Đà Nẵng phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Thanh Khê phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trong túi quần bên trái phía trước M đang mặc có 04 gói nilong kích thước 7x4 cm, bên trong đều có chứa tinh thể màu trắng, được niêm phong ký hiệu G1 và các tang vật khác có liên quan.
* Tại Kết luận giám định số 212/GĐ-MT ngày 13/8/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Đà Nẵng xác định: “Mẫu tinh thể màu trắng trong 04 gói ni lông trong bì niêm phong ký hiệu G1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng tinh thể mẫu G1: 22,897 gam”.
* Kết quả thử nước tiểu, Nguyễn Thanh M, Phan Văn H và Hà Phước C dương tính với chất ma túy.
* Nguyên nhân, động cơ, mục đích phạm tội: Nguyễn Thanh M, Phan Văn H và Hà Phước C là các đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy nên mua ma túy về sử dụng; Phan Văn H đồng ý giúp M mua ma túy để được sử dụng chung, còn Hà Phước C vì nể nang N nên đồng ý giúp M mua ma túy, không hứa hẹn lợi ích gì khác.
* Vật chứng thu giữ:
- 04 gói nylong chứa tinh thể màu trắng (đã niêm phong), ký hiệu G1 đã được hoàn trả sau giám định, trong 01 bì niêm phong số 212/GĐ-MT ngày 13/8/2021, có đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng;
- Thu giữ của Nguyễn Thanh M: 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu đen; Số Imei: 356595082565291, có gắn sim số 0968562158 dùng để liên lạc mua ma túy và số tiền 400.000 đồng, dùng để sử dụng cá nhân;
- Thu giữ của Phan Văn H: 01 điện thoại di động Iphone màu trắng bạc nứt vỡ mặt sau, Số Imei: 357989057427786, có gắn sim số: 0585439589 và 01 điện thoại di động Nokia màu đen, Số Imei: 352892106222205, gắn sim số: 0932541531 dùng để liên lạc mua ma túy.
- Thu giữ của Hà Phước C: 01 điện thoại di động hiệu Itel màu đỏ, số Imei: 358625105439, có gắn sim số: 0935254261, dùng để liên lạc mua ma túy.
Các vật chứng nêu trên, chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê tạm thời quản lý.
- Đối với xe mô tô Vision màu xanh, Bển số 43F1-3…. do chị Nguyễn Phạm Minh N (là chị vợ của Nguyễn Thanh M) đứng tên sở hữu. Chị N cho M mượn xe trên vào đầu tháng 7/2021 để làm phương tiện đi lại, không Bết việc M sử dụng xe trên để đi mua ma túy nên ngày 13/10/2021, Cơ quan CSĐT Công an quận Thanh Khê đã trả lại xe trên cho chị N.
Quá trình điều tra, Nguyễn Thanh M, Phan Văn H và Hà Phước C đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Tại Bản Cáo trạng số 140/CT-VKS ngày 30/11/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố Nguyễn Thanh M, Phan Văn H và Hà Phước C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước giữ nguyên quan điểm đã truy tố, đề nghị HĐXX căn cứ vào tính chất vụ án, nhân thân, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra và đề nghị HĐXX tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh M, Phan Văn H và Hà Phước C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và:
Áp dụng: điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh M mức án từ 7 (bảy) năm đến 8 (tám) năm tù.
Áp dụng: điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Phan Văn H mức án từ 5 (năm) đến 7 (bảy) năm tù.
Áp dụng: điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Hà Phước C mức án từ 7 (bảy) năm đến 8 (tám) năm tù.
Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có công việc ổn định, không có tài sản nên không đề nghị hình phạt bổ sung.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên:
- Đối với ma túy hoàn trả sau giám định được niêm phong trong 01 bì niêm phong số 212/GĐ-MT ngày 13/8/2021, có đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng thì đề nghị tịch thu, tiêu huỷ;
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen, Số Imei: 356595082565291, có gắn sim số 0968562158, thu giữ của Nguyễn Thanh M dùng để liên lạc mua bán ma túy nên cần tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 điện thoại di động Iphone màu trắng bạc nứt vỡ mặt sau, Số Imei: 357989057427786, có gắn sim số: 0585439589 và 01 điện thoại di động Nokia màu đen, Số Imei: 352892106222205, gắn sim số: 0932541531 thu giữ của Phan Văn H dùng để liên lạc mua ma túy, nên cần tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Itel màu đỏ, số Imei: 358625105439, có gắn sim số: 0935254261, thu giữ của Hà Phước C dùng để liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với số tiền 400.000đ thu giữ của Nguyễn Thanh M dùng để sử dụng cá nhân nên trả lại cho Nguyễn Thanh M nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê theo Bên bản giao, nhận vật chứng ngày 01 tháng 12 năm 2021 và Bên lai thu tiền số 0000727 ngày 01 tháng 12 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Thanh M, Phan Văn H và Hà Phước C cũng đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, rất ăn năn hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra quận Thanh Khê, Điều tra viên, Viện kiểm sát quận Thanh Khê, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo thì thấy: Qua xem xét lời khai nhận tội của các bị cáo, cũng như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Lúc 21 giờ ngày 07/8/2021, tại trước nhà số 45 đường Đ thuộc phường Vĩnh Trung, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, Nguyễn Thanh M, Phan Văn H và Hà Phước C có hành vi cất giấu trái phép 22,897 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị lực lượng 911 Công an thành phố Đà Nẵng phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê bắt quả tang.
Hành vi của Nguyễn Thanh M, Phan Văn H và Hà Phước C đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng số 140/CT-VKS ngày 30/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo thì thấy:
Hành vi của các bị cáo có tính chất nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền trong việc quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo đủ khả năng nhận thức được việc tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy đang là tệ nạn của xã hội, là nguyên nhân của các tội phạm khác gây mất an ninh trật tự, sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của nòi giống, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội, nhưng các bị cáo vẫn phạm tội.
Đối với bị cáo Nguyễn Thanh M, Phan Văn H là người chưa có tiền án, tiền sự nhưng do đua đòi, ăn chơi nên lao vào con đường nghiện ngập. Bị cáo M là người chủ động điện thoại cho bị cáo H để tìm mua ma túy để cùng sử dụng. Bị cáo M là người trực tiếp giao dịch mua 4 gói ma túy đá với giá 10.500.000đ. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn nhưng vai trò của bị cáo Nguyễn Thanh M phạm tội tích cực hơn các bị cáo H, C. Do vậy, cần phải xét xử nghiêm, hình phạt đối với bị cáo M phải cao hơn các bị cáo khác và tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo để bị cáo có điều kiện cải tạo tu dưỡng để trở thành công dân có ích cho xã hội. Tuy nhiên, khi lượng hình, HĐXX xem xét gia đình bị cáo có công với Cách mạng, bị cáo có ông ngoại là liệt sỹ đã hy sinh trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước.
Bị cáo Hà Phước C có 01 tiền án: Tại Bản án số 54/2020/HSST ngày 28/7/2020, Tòa án nhân quận Hải Châu xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS; chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/5/2021.
Tới ngày phạm tội, bị cáo chưa được xóa án tích. Do đó lần phạm tội lần này hành vi của bị cáo thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo C còn có nhân thân rất xấu: Năm 2002, 2003, 2008, 2012, đi tập trung cai nghiện tại Trung tâm giáo dục dạy nghề 05-06 theo các Quyết định số 775/QĐ-LĐTBXH ngày 25/11/2002, Quyết định số 3297/QĐ-UB ngày 29/5/2003, Quyết định số 8207 ngày 07/10/2008, Quyết định số 7800/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng.
Hành vi của các bị cáo thể hiện tính chất liều lĩnh và coi thường pháp luật, do đó HĐXX thấy phải xử phạt các bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo, cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Thanh M, Phan Văn H và Hà Phước C đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được áp dụng cho các bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có công việc ổn định, không có tài sản nên không đề nghị hình phạt bổ sung.
Từ những phân tích trên, xét lời luận tội của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê về tội danh là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý các vật chứng trong vụ án, cụ thể như sau:
- Đối với ma túy hoàn trả sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì niêm phong số 212/GĐ-MT ngày 13/8/2021, có đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng thì đề nghị tịch thu, tiêu huỷ;
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen, Số Imei: 356595082565291, có gắn sim số 0968562158, thu giữ của Nguyễn Thanh M dùng để liên lạc mua bán ma túy nên cần tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 điện thoại di động Iphone màu trắng bạc nứt vỡ mặt sau, Số Imei: 357989057427786, có gắn sim số: 0585439589 và 01 điện thoại di động Nokia màu đen, Số Imei: 352892106222205, gắn sim số: 0932541531 thu giữ của Phan Văn H dùng để liên lạc mua ma túy, nên cần tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Itel màu đỏ, số Imei: 358625105439, có gắn sim số: 0935254261, thu giữ của Hà Phước C dùng để liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với số tiền 400.000 đồng thu giữ của Nguyễn Thanh M. Đây là tài sản cá nhân của Nguyễn Thanh M không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho Nguyễn Thanh M nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê theo Bên bản giao, nhận vật chứng ngày 01 tháng 12 năm 2021 và Bên lai thu tiền số 0000727 ngày 01 tháng 12 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê).
- Đối với xe mô tô Vision màu xanh, Bển số 43F1-302.08 do chị Nguyễn Phạm Minh N (là chị vợ của Nguyễn Thanh M) đứng tên sở hữu. Chị N cho M mượn xe trên vào đầu tháng 7/2021 để làm phương tiện đi lại, không Bết việc M sử dụng xe trên để đi mua ma túy nên ngày 13/10/2021, Cơ quan CSĐT Công an quận Thanh Khê đã trả lại xe trên cho chị N theo quyết định xử lý vật chứng số 52/ĐCSMT là đúng quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử thấy phù hợp.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Thanh M, Phan Văn H và Hà Phước C, Công an quận Thanh Khê đã ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền là đúng quy định của pháp luật.
Đối với người đàn ông tên N giúp Phan Văn H mua ma túy và nguời đàn ông tên B bán ma túy cho Nguyễn Thanh M, hiện không rõ lai lịch, địa chỉ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.
Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào Điểm g khoản 2 Ðiều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh M 7 (bảy) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07 tháng 8 năm 2021.
2. Căn cứ vào Điểm g khoản 2 Ðiều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Phan Văn H 6 (sáu) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07 tháng 8 năm 2021.
3. Căn cứ vào Điểm g khoản 2 Ðiều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Hà Phước C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Hà Phước C 7 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07 tháng 8 năm 2021.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên:
- Tịch thu, tiêu hủy: Ma túy hoàn trả sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì niêm phong số 212/GĐ-MT ngày 13/8/2021, có đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng;
- Tịch thu, nộp vào Ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen, Số Imei: 356595082565291, có gắn sim số 0968562158, thu giữ của Nguyễn Thanh M dùng để liên lạc mua bán ma túy.
- Tịch thu, nộp vào Ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Iphone màu trắng bạc nứt vỡ mặt sau, Số Imei: 357989057427786, có gắn sim số: 0585439589 và 01 điện thoại di động Nokia màu đen, Số Imei: 352892106222205, gắn sim số: 0932541531 thu giữ của Phan Văn H, dùng để liên lạc mua ma túy.
- Tịch thu, nộp vào Ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Itel màu đỏ, số Imei: 358625105439, có gắn sim số: 0935254261, thu giữ của Hà Phước C , dùng để liên lạc mua ma túy.
- Trả lại cho Nguyễn Thanh M số tiền 400.000 đồng thu giữ của Nguyễn Thanh M nhưng cần tiếp tục tạm giữ số tiền 400.000 đồng để đảm bảo thi hành án.
(Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê theo Bên bản giao, nhận vật chứng ngày 01 tháng 12 năm 2021 và Bên lai thu tiền số 0000727 ngày 01 tháng 12 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê).
3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về việc “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án” của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Các bị cáo Nguyễn Thanh M, Phan Văn H và Hà Phước C, mỗi bị cáo pH chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 26/01/2021). Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Viện KSND quận Thanh Khê;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê;
- Viện KSND thành phố Đà Nẵng;
- Cơ quan CSĐT - Công an quận Thanh Khê;
- Cơ quan Thi hành án hình sự quận Thanh Khê;
- Nhà tạm giữ CA quận Thanh Khê;
- Người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ.
Trần Thị Minh Cúc
01 điện thoại di động Iphone màu trắng bạc nứt vỡ mặt sau, Số Imei: 357989057427786, có gắn sim số: 0585439589 và 01 điện thoại di động Nokia màu đen, Số Imei: 352892106222205, gắn sim số: 0932541531 thu giữ của Phan Văn H dùng để liên lạc mua ma túy, nên cần tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Itel màu đỏ, số Imei: 358625105439, có gắn sim số: 0935254261, thu giữ của Hà Phước C dùng để liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - Viện KSND quận Thanh Khê; - Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê; - Viện KSND thành phố Đà Nẵng; - Cơ quan CSĐT - Công an quận Thanh Khê; - Cơ quan Thi hành án hình sự quận Thanh Khê; - Trại tạm giam – Công an thành phố Đà Nẵng; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. Các Hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |