vanban.org

Bản án 16/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang Tuyên án 01/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Về hình phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SƠN DƯƠNG
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2022/HS-ST
Ngày: 28/02/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Minh Khánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Minh H.

2. Ông Nguyễn Sơn Hải.

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Hồng Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 28/02/2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2022/TLST-HS, ngày 26 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2022/QĐXXST-HS, ngày 14 tháng 02 năm 2022 đối với bị cáo:

Trần Văn H, sinh ngày 16/9/1976 tại xã L, thành phố T, tỉnh T1.

Nơi cư trú: Thôn 6, xã L, thành phố T, tỉnh T1; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; Dân tộc: Cao Lan; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Công Tác (đã chết) và bà: Hoàng Thị B, sinh năm 1952; vợ: Nguyễn Hồng P (đã ly hôn); con: Có 01 con, sinh năm 2006; anh chị em ruột: Có 04 người, bị cáo là con thứ ba;

+ Tiền án: Bản án số 82/2019/HSST ngày 11/7/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”(Ngày 10/3/2020, chấp hành xong toàn bộ bản án).

+ Tiền sự: Công an xã Lưỡng Vượng, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang xử phạt vi phạm hành chính tại Quyết định số 001180/QĐ-XPVPHC ngày 31/12/2020 xử phạt 750.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (Chưa thi hành quyết định).

+ Nhân thân:

Ngày 28/7/2003 UBND thị xã Tuyên Quang (nay là thành phố Tuyên Quang) áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Ngày 12/02/2007 Công an thị xã Tuyên Quang (nay là thành phố Tuyên Quang) áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Ngày 17/5/2011, Công an thành phố Tuyên Quang áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Ngày 06/11/2017, Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng (Quyết định số 34/2017/QĐ-TA), đã chấp hành xong ngày 03/01/2019.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/12/2021, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 16/12/2021 Trần Văn H đi xe ôm từ nhà đến khu vực xã T, huyện Y, tỉnh T tìm mua ma túy về để sử dụng. Tại khu vực xã Tiến Bộ, huyện Yên Sơn, H gặp và hỏi mua của một người đàn ông không xác định được tên, tuổi, địa chỉ được 02 gói ma túy bằng giấy bạc màu vàng, bên trong chứa chất bột vón cục màu trắng. H cất giấu 02 gói ma túy vào túi áo ngực bên trái đang mặc rồi đi nhờ xe mô tô của một người đàn ông đi đường đến khu vực thôn Đ, xã T, huyện S, H xuống xe đi bộ tìm chỗ vắng người để sử dụng ma túy thì bị Tổ công tác của Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Sơn Dương kiểm tra, phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 14 giờ 10 phút cùng ngày. Thu giữ 02 gói bằng giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột vón cục màu trắng.

Ngày 16/12/2021 xét nghiệm tìm chất ma túy bên trong cơ thể Trần Văn H, kết quả (+) dương tính, có chất ma túy trong cơ thể. H khai nhận ngày 15/12/2021 đã sử dụng ma túy.

Kết luận giám định số 19/GĐ - KTHS ngày 20/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang. Kết luận: Số chất bột vón cục màu trắng trong 02 gói thu giữ của Trần Văn Hùn ngày 16/12/2021 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,209gam (Không phẩy hai không chín).

Vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an huyện Sơn Dương đã tạm giữ 01 phong bì niêm phong bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định), bên ngoài ghi tang vật vụ Trần Văn H giám định ngày 16/12/2021.

Tại Cáo trạng số 23/CT-VKSSD, ngày 25/01/2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương đã truy tố Trần Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị:

- Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; ; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (16/12/2021).

Do bị cáo không có tài sản nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định), bên ngoài ghi tang vật vụ Trần Văn H giám định ngày 16/12/2021).

- Về án phí, quyền kháng cáo: Buộc bị cáo phải chịu tiền án phí và tuyên quyền kháng cáo của bị cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về nội dung vụ án:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.

Ngoài lời khai nhận của bị cáo, hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng toàn bộ những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 14 giờ 10 phút, ngày 16/12/2021, tại thôn Đồng Ván, xã Thượng Ấm, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, Trần Văn H có hành vi tàng trữ trái phép 0,209gam (Không phẩy hai không chín) Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương truy tố Trần Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do vậy, cần phải có mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.

Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và đường lối xử lý đối với bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Năm 2019 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 10/3/2020 chấp hành xong toàn bộ bản án. Do vậy, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm thuộc trường hợp quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện nhưng vẫn không từ bỏ được ma túy.

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được phân tích ở trên, Hội đồng xét xử xét mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên chấp nhận.

Quá trình điều tra xác định bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Về vật chứng:

Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định), bên ngoài ghi tang vật vụ Trần Văn H giám định ngày 16/12/2021.

Đây là vật chứng của vụ án thuộc danh mục Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Các vấn đề khác: Đối với người đàn ông bán Heroine cho bị cáo tại khu vực xã Tiến Bộ, huyện Yên Sơn, do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để điều tra xử lý.

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sơn Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn H không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về án phí và quyền kháng cáo bản án:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự; Các Điều 106, 136, 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

1. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Trần Văn H 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (16/12/2021).

2. Về vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì đã niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa ma túy (đã giám định), đặc điểm, tình trạng, khối lượng được miêu tả trong biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định. Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong và Trần Văn H; mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Trần Văn H giám định ngày 16/12/2021”.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 07/02/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sơn Dương và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương)

3. Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦTOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Minh H - Nguyễn Sơn Hải

Hoàng Thị Minh Khánh

Cỡ chữ