vanban.org

Bản án 16/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 29/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Cao C phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Cao C 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Phạm Cao C cho Ủy ban nhân dân xã G, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Trường hợp người được hưởng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Cao C VPGTĐB - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Cao C phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt tù; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HƯƠNG KHÊ
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2022/HS-ST
Ngày 29/4/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Thảo và ông Phan Văn Tiến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Khuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Lê Thuần Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 11/2022/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2022/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 4 năm 2022, đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Cao C (Tên gọi khác: Không), sinh ngày: 16/6/1984, tại xã G, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn P, xã G, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đăng H, sinh năm 1950 và bà Lê Thị T, sinh năm 1959; có vợ Võ Thị N, sinh năm 1984 và 02 con, đứa lớn 16 tuổi, đứa nhỏ 7 tuổi; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 05/7/2011, bị TAND thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo bản án số 179/2011/HSST; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/12/2021 đến nay; có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại (bà Trần Thị L; sinh năm 1964, đã chết), gồm:

Ông Võ Ngọc H; sinh năm 1958; địa chỉ: Xóm 3, xã Phúc Trạch, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh (chồng bà Trần Thị L);

Các con của bà Trần Thị L: Anh Võ Tá N, sinh năm 1984; chị Võ Thị O, sinh năm 1986; anh Võ Văn S, sinh năm 1990; anh Võ Văn L, sinh năm 1993; đều địa chỉ: Xóm X, xã P, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh.

Những người đại diện hợp pháp của bị hại ủy quyền cho ông Võ Ngọc H; sinh năm 1958; địa chỉ: Xóm X, xã Phúc Trạch, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh (đồng thời là bị hại), tham gia tố tụng tại phiên tòa (Văn bản ủy quyền ngày 20/4/2022); có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH Xây dựng và Vận tải Đ; trụ sở: Tổ dân phố Y, thị trấn Hương Khê, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh, do bà Nguyễn Thị H- Chức vụ: Giám đốc Công ty, là người đại diện theo pháp luật, ủy quyền cho ông Nguyễn Ánh S; sinh năm 1970; địa chỉ: Tổ dân phố Y, thị trấn Hương Khê, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh tham gia tố tụng (Văn bản ủy quyền ngày 17/11/2021); có mặt.

- Người làm chứng:

Anh Tống Trần C, sinh năm 1986; địa chỉ: Xóm L, xã P, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt

Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1982; địa chỉ: Xóm K, xã P, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 16/11/2021, Phạm Cao C làm lái xe hợp đồng cho Công ty TNHH Xây dựng và Vận tải Đ, điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 38H-001.60 đi từ xóm 10, xã P, huyện Hương Khê theo đường Hồ Chí Minh đi xã H, huyện T, tỉnh Quảng Bình (hướng Bắc - Nam). Đến khoảng 10 giờ 40 phút cùng ngày, khi đi đến địa phận xóm Y, xã P, C phát hiện phía trước có một xe ô tô đầu kéo di chuyển cùng chiều với tốc độ chậm và phần đường ngược chiều không có xe di chuyển nên C điều khiển xe ô tô đi sang phần đường phía bên trái chiều đi của mình để vượt xe đi trước. Khi chuẩn bị vượt được xe đi trước thì phát hiện tại phần đường cùng chiều, trước đầu xe ô tô đầu kéo phía trước có hai người chở nhau bằng xe mô tô chuyển hướng rẽ trái đi vào đường liên thôn, bị cáo đạp phanh nhưng do khoảng cách quá gần nên đã va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 38P1-179.24 do ông Võ Ngọc H điều khiển chở vợ là bà Trần Thị L đi cùng chiều phía trước đang chuyển hướng từ đường Hồ Chí Minh để đi sang bên trái rẽ vào đường liên thôn. Hậu quả bà L tử vong tại chỗ, ông H bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Tĩnh, hai phương tiện bị hư hỏng nhẹ.

Hiện trường vụ tai nạn nằm trên đường Hồ Chí Minh thuộc xóm Y, xã P, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh; đường thẳng, mặt đường rải thảm nhựa bằng phẳng, rộng 7,0m, giữa đường có vạch kẻ sơn nét đứt màu vàng, hai bên mép đường có vạch kẻ sơn nét liền màu trắng, ngoài hai bên mép đường là lề đường rộng 1,1m, ngoài hai lề đường là mương thoát nước rộng 1,2m, sâu 0,4m chạy dọc theo đường. Phía Bắc là hướng đi xã Hương Trà, phía Nam là hướng đi xã Hương Trạch, phía Đông và phía Tây tiếp giáp khu vực dân cư sinh sống.

Tại hiện trường có 06 dấu vết bao gồm: Vết phanh thứ nhất được đánh số (1), vết phanh thứ hai được đánh số (2), vết cày được đánh số (3), xe ô tô BKS 38H-00160 được đánh số (4), xe mô tô BKS 38P1-179.24 được đánh số (5), tử thi Trần Thị Liễu được đánh số (6).

Chọn mép đường bên trái theo hướng xã Hương Trà đi xã Hương Trạch làm mép chuẩn. Chọn cột mốc làm bằng bê tông, trên cột có dòng chữ H (H4+838) nằm trên lề đường bên phải theo chiều xã Hương Trà đi xã Hương Trạch làm mốc cố định.

Từ mốc cố định đo về hướng xã Hương Trạch 54,5m là dấu vết phanh được đánh số (1) trên hiện trường, dài 29,6m, nơi rộng nhất 0,45m, nằm trên phần đường bên trái theo hướng xã Hương Trà đi xã Hương Trạch, chiều hướng đậm dần theo hướng xã Hương Trà đi xã Hương Trạch, đầu vết phanh cách mép chuẩn 3,0m, cuối vết phanh nằm dưới bánh sau bên phải xe ô tô BKS 38H-001.60, cách mép chuẩn 3,0m. Từ đầu vết phanh đánh số (1) đo về hướng xã Hương Trà 3,5m là đầu vết phanh được đánh số (2) trên hiện trường, dài 32,3m, nơi rộng nhất là 0,45m, nằm trên phần được bên trái theo chiều Hương Trà đi xã Hương Trạch, chiều hướng đậm dần theo hướng xã Hương Trà đi xã Hương Trạch, đầu vết phanh cách mép chuẩn 1,5m, cuối vết phanh nằm dưới bánh sau bên trái xe ô tô BKS 38H-001.60, cách mép chuẩn 0,7m. Từ đầu vết phanh đánh số (2) trên hiện trường đo về hướng đi xã Hương Trạch 25,1m là đầu vùng vết cày đường nhựa được đánh số (3) trên hiện trường, vùng vết cày đường nhựa có nhiều nét cày song song với nhau, đứt quãng, kéo dài trên mặt đường theo chiều xã Hương Trà đi xã Hương Trạch đến dưới vị trí xe mô tô BKS 38P1-179.24 nằm, đầu vùng cày cách mép chuẩn 1,7m, cuối vùng cày cách mép chuẩn 1,3m. Từ đầu vùng cày được đánh số (3) trên hiện trường đo về hướng đi xã Hương Trạch 14m là tâm trục trước xe mô tô BKS 38P1-179.24. Xe ô tô BKS 38H-001.60 được đánh số (4) trên hiện trường, dừng đậu trên đường Hồ Chí Minh, đầu hướng xã Hương Trạch, đuôi xe hướng xã Hương Trà, có trục trước bên trái cách mép chuẩn 1,8m, trục sau bên trái cách mép chuẩn 0,7m. Xe mô tô BKS 38P1-179.24 được đánh số (5) trên hiện trường nằm nghiêng phải trên lề đường bên trái theo hướng xã Hương Trà đi xã Hương Trạch, đầu xe hướng xã Hương Trà, đuôi xe hướng xã Hương Trạch, trục trước cách mép chuẩn 0,6m, trục sau cách mép chuẩn 1,3m. Từ tâm trục trước bên trái xe ô tô BKS 38H-001.60 đo về hướng đi xã Hương Trạch 4,3m là chân tử thi Trần Thị Liễu được đánh số (6) trên hiện trường, nằm ngửa trên phần đường bên trái theo hướng xã Hương TRà đi xã Hương Trạch, đầu tử thi hướng vào mép chuẩn, cách mép chuẩn 1,25m, chân tử thi cách mép chuẩn 2,8m.

Kết luận giám định pháp y tử thi số 263/GĐPY ngày 17/11/2021 của Phòng Kỷ thuật hình sự Công an Hà Tĩnh kết luận về kết quả giám định tử thi bà Trần Thị L: Trên cơ thể có một số vết xây xát da; vùng chẩm có đám sưng nề; tụ máu dưới da đầu vùng chẩm; vỡ xương hộp sọ. Nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não.

Tại kết luận giám định pháp y về thương tích số 27/TgT ngày 25/02/2022 của Trung tâm Pháp y và giám định y khoa Hà Tĩnh kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Võ Ngọc H tại thời điểm giám định là 30%.

Kết luận giám định số 48/PC09-CH ngày 26/11/2021 của Phòng Kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh, kết luận: Xe ô tô tải mang BKS 38H-001.60 và xe mô tô mang BKS 38P1-179.24 có va chạm với nhau. Phần giữa cản trước xe ô tô tải với phần bên trái giá nâng phía sau xe mô tô là vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện. Đầu xe ô tô tải va chạm với phần sau đuôi xe mô tô một góc khoảng 45o đến 90o ngược chiều kim đồng hồ so với chiều chuyển động của xe ô tô tải. Vị trí va chạm giữa xe ô tô tải BKS 38H-001.60 với xe mô tô mang BKS 38P1-179.24 nằm trên phần đường phía bên trái theo chiều từ xã Hương Trà đi xã Hương Trạch, huyện Hương Khê. Không đủ cơ sở kết luận tốc độ của xe ô tô tải mang BKS 38H-001.60 tại thời điểm trước khi xẩy ra tai nạn.

Kết luận định giá tài sản ngày 03/3/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Hương Khê xác định giá trị thiệt hại phần hư hỏng của xe ô tô BKS 38H-001.60 là 2.150.000đ; xe mô tô BKS 38P1-179.24 là 1.558.000đ.

Về vật chứng thu giữ, xử lý: 01 xe ô tô tải, loại 8 tấn, hiệu TMT, màu xanh, BKS 37H-001.60 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu vàng, BKS 38P1-179.24. Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi gây tai nạn bị cáo Phạm Cao C đã bồi thường cho gia đình ông Võ Ngọc H tổng số tiền 180.000.000đ. Hiện nay ông Võ Ngọc H và là đại diện hợp pháp của gia đình bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm; Công ty TNHH Xây dựng và Vận tải Đức Phú không có yêu cầu gì về việc hư hỏng của xe ô tô BKS 38H-001.60.

Tại bản cáo trạng số 13/CT-VKS-HK ngày 04/4/2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Phạm Cao C về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Phạm Cao C khai nhận về hành vi của mình như nội dung trên và không có ý kiến tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo thể hiện sự ăn năn hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện hợp pháp của bị hại tham gia tố tụng không có yêu cầu bồi thường gì và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Phạm Cao C về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 48 tháng và buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Cao C tự nguyện khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án trên. Đối chiếu lời khai nhận tội của bị cáo với lời khai người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa như Biên bản khám nghiệm hiện trường, Biên bản, kết luận khám nghiệm tử thi, phương tiện liên quan trong vụ tai nạn và các biên bản, kết quả điều tra là phù hợp. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Phạm Cao C có giấy phép lái xe hợp lệ, làm lái xe cho Công ty TNHH Xây dựng và Vận tải Đức Phú; vào khoảng 10 giờ 40 phút ngày 16/11/2021, Cường điều khiển xe ô tô tải loại 08 tấn, BKS 38H-001.60 đi hướng từ xã Phúc Trạch, huyện Hương Khê đi xã Hướng Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình, khi đi đến Km 838+454,5 đường Hồ Chí Minh thuộc địa phận xóm 4, xã Phúc Trạch, huyện Hương Khê, do đi không đúng phần đường nên đã va chạm với xe mô tô BKS 38P1-179.24 do ông Võ Ngọc H điều khiển chở vợ là bà Trần Thị L. Hậu quả bà Trần Thị L tử vong tại chỗ; ông Võ Ngọc H bị tổn thương cơ thể 30% và xe mô tô BKS 38P1-179.24 bị thiệt hại 1.558.000đ.

Hành vi của bị cáo do không tuân thủ quy tắc khi tham gia giao thông đường bộ được quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ “Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định”, gây ra hậu quả làm chết 01 người. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự, thuộc trường hợp “Làm chết người”. Vì vậy, Cáo trạng của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sự an toàn của hoạt động giao thông đường bộ và sự an toàn về tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Do đó, cần phải đưa ra xét xử để đảm bảo tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi xẩy ra tai nạn bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại đầy đủ cho gia đình bị hại; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả” và “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, đại diện hợp pháp của bị hại có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ khác tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; về nhân thân, mặc dù năm 2011 bị kết án nhưng đã được đương nhiên xóa án tích từ ngày 05/7/2012, và từ đó đến nay bị cáo luôn chấp hành đúng pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân nơi cư trú; nay phạm tội với lỗi vô ý, được gia đình bị hại bãi nại; bị cáo có nơi cư trú ổn định rõ ràng và xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo, việc cho hưởng án treo không ảnh hưởng đến an ninh trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo như lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa để thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật tạo điều kiện cho bị cáo được giáo dục, cải tạo tại địa phương là phù hợp.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng các điều, khoản, điểm; tội danh; hình phạt và biện pháp áp dụng; án phí là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về các biện pháp tư pháp không có nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Cao C phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Cao C 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phạm Cao C cho Ủy ban nhân dân xã G, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt hoặc thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ