- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Kiều Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2022/HS-ST Ngày 19/01/2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Ánh Tuyết
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Minh Nhựt
2. Ông Đinh Chí Công
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Lữ Cẩm Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Vƣơng - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 01 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 81/2021/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2021, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2021/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:
Kiều Văn Đ, sinh năm 1993, tại Kiên Giang; Nơi cư trú: ấp Th, xã Th, huyện G, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Ngư phủ; Trình độ văn hóa: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Con ông Lê Văn Th, sinh năm 1972 và bà Kiều Thị G, sinh năm 1972; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt giữ, tạm giam từ ngày 25/8/2021
Bị cáo có mặt tại phiên tòa
- Người làm chứng:
+ Anh Dƣơng Hữu Ph, sinh năm 1995 (Vắng mặt)
Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang
+ Anh Trần H, sinh năm 1990 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Khu phố M, thị trấn M, huyện C, tỉnh Kiên Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 24 tháng 8 năm 2021 Kiều Văn Đ rủ bạn tên Dương Hữu Ph đi đến thị trấn M, huyện C để uống rượu cùng một người bạn tên Tr (khoảng 20 tuổi, quê ở An Giang, không xác định họ tên địa chỉ, Tr là bạn đi ghe biển cùng Đ) thì Ph đồng ý. Lúc này, Ph điều khiển xe mô tô loại exciter biển số kiểm soát 68C1-420.18 của Ph chở Đ ngồi phía sau đi từ nhà Ph đến chợ M thì gặp Tr tại đây. Sau đó, cả ba đi tìm quán nhậu nhưng không có quán nào mở cửa nên Tr rủ Đ và Ph sử dụng ma túy đá thì cả hai đồng ý.
Nhóm của Đ đi vào đường chùa “Cà lang ông” thuộc thị trấn M đến một bãi đất trống (Đ và Ph không nhớ vị trí cụ thể). Tại đây, Tr đem ra một bịch ma túy đá và bộ dụng cụ để sử dụng ma túy (Nỏ), Tr bỏ một phần ma túy trong bịch nylon ra để cả ba cùng sử dụng. Khi cả ba sử dụng xong ma túy Tr cho riêng Đ phần ma túy còn lại bịch nylon để Đ đem về sử dụng. Việc Tr cho Đ ma túy Ph không biết. Sau khi có được ma túy, Đ cầm ma túy ở tay phải rồi lên xe để Ph chở về đến trước Tr tâm y tế huyện C thuộc khu phố M, thị trấn M, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang tiến hành kiểm tra bắt quả tang Kiều Văn Đ đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ là một bịch nylon màu trắng được hàn kín, một cạnh hở, kích thước 3,1 x 3,2cm bên trong có chứa các hạt tinh thể dạng rắn không đồng nhất nghi là chất ma túy, đã được niêm phong theo quy định.
Sau khi bắt quả tang Đ về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, lực lượng chức năng đã đưa Đ về Công an thị trấn M, huyện Châu Thành để làm việc. Tại đây, Đ đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại Kết luận giám định số 835/KL-KTHS ngày 27 tháng 08 năm 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang, kết luận:
Các hạt tinh thể màu trắng, không đồng nhất, trong một bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,8511 gram.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP, ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Nhận thấy trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Đ đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
- Đồ vật, tài liệu thu giữ, tạm giữ, hướng xử lý vật chứng gồm: 01 (một) phong bì màu trắng có dòng chữ CÔNG AN TỈNH KIÊN GIANG PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ, Niêm phong mẫu vật, vụ số 835/2021, ngày 28 tháng 8 năm 2021, người chứng kiến Lê Thanh Tr, giám định viên Thái Thị Thanh Th, có đóng dấu mộc đỏ niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang. Đây là Phong bì chứa ma túy còn lại sau giám định.
Đối với đối tượng tên Tr là người đã tổ chức cho Đ và Ph sử dụng ma túy, sau đó cho Đ ma túy để Đ đem về sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành, Kiên Giang do không xác định được họ tên địa chỉ cụ thể của đối tượng này nên chưa thể làm việc được. Khi nào làm việc được với đối tượng này sẽ tiến hành xử lý theo quy định.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Dương Hữu Ph trong vụ án, đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành tiến hành xử lý hành chính theo quy định.
Tại bản cáo trạng số: 88/CT-VKS-CT ngày 29/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Kiều Văn Đ về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Kiều Văn Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự
Xử phạt bị cáo Kiều Văn Đ từ 01 năm đến 01 năm 6 tháng tù.
Về biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì màu trắng có dòng chữ CÔNG AN TỈNH KIÊN GIANG PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ, Niêm phong mẫu vật, vụ số 835/2021, ngày 28 tháng 8 năm 2021, người chứng kiến Lê Thanh Tr, giám định viên Thái Thị Thanh Th, có đóng dấu mộc đỏ niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận về quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành.Bị cáo được nói lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiền hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu cũng như kết quả điều tra của Cơ quan điều tra và bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành. Từ đó, có đủ căn cứ để xác định: Vào khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 24 tháng 8 năm 2021, Kiều Văn Đ đã cùng Dương Hữu Ph đi từ xã B đến thị trấn M để gặp bạn tên Tr. Lúc này, Tr rủ Đ và Ph sử dụng ma túy thì Đ và Ph đồng ý. Cả ba đi đến khu vực bãi đất trống gần chùa “Cà lang ông” Tr lấy ra một bịch ma túy đá rồi bỏ một phần ma túy vào nỏ cho cả ba cùng sử dụng. Sau khi sử dụng ma túy xong còn dư lại 01 phần Tr cho Đ đem về sử dụng. Đến khoảng 22 giờ 45 phút cùng ngày, Đ và Ph đi đến trước Trung tâm y tế huyện Châu Thành thuộc khu phố M, thị trấn M, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang Đ đang tàng trữ ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 0,8511 gram. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố bị cáo phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, HĐXX xét thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với ma túy và các chất gây nghiện khác; khi thực hiện hành vi bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy cũng như hậu quả của việc sử dụng chất ma túy sẽ làm ảnh hưởng đến sức khỏe, kinh tế của chính bản thân người nghiện mà còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm và hành vi vi phạm pháp luật khác, làm mất an ninh trật tự xã hội và gây bất bình trong nhân dân. Bị cáo nhận thức rõ ma túy là chất quản lý đặc biệt nhưng đã tàng trữ trái phép là phạm tội với lỗi cố ý. Do đó, HĐXX xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng được quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xét về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân bị cáo tốt không có tiền án, tiền sự. Do đó, HĐXX xét thấy cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét khi quyết định hình phạt cho bị cáo là phù hợp.
Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, khung hình phạt cũng như việc áp dụng các điều luật để xử lý vụ án là có căn cứ pháp luật nên HĐXX ghi nhận.
Về đánh giá vật chứng, xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) phong bì màu trắng có dòng chữ CÔNG AN TỈNH KIÊN GIANG PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ, Niêm phong mẫu vật, vụ số 835/2021, ngày 28 tháng 8 năm 2021, người chứng kiến Lê Thanh Tr, giám định viên Thái Thị Thanh Th, có đóng dấu mộc đỏ niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang, đây là vật cấm lưu hành và tang trữ nên cần xử tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
Về án phí: Xử buộc bị cáo phải có nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Kiều Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Kiều Văn Đ 01 (Một) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 25/8/2021.
Về biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì màu trắng có dòng chữ CÔNG AN TỈNH KIÊN GIANG PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ, Niêm phong mẫu vật, vụ số 835/2021, ngày 28 tháng 8 năm 2021, người chứng kiến Lê Thanh Tr, giám định viên Thái Thị Thanh Th, có đóng dấu mộc đỏ niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang. Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang đang quản lý theo quyết định chuyển giao vật chứng số: 63/QĐ-VKSCT ngày 29/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử buộc bị cáo Kiều Văn Đ phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - Sở tư pháp tỉnh Kiên Giang; - VKSND H. Châu Thành; - Công An H. Châu Thành; - Chi cục THADS H. Châu Thành; - Bị cáo; - Lưu HS. | Huỳnh Ánh Tuyết |