vanban.org

Bản án 16/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 25/03/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NHĂM VĂN P - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN BIÊN
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2022/HS-ST
Ngày 25-3-2022

NHÂN DANH

NƯỚC"CỘNG"HÒA"XÃ"HỘI"CHỦ"NGHĨA"VIỆT"NAM"

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Chọn.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Mộng Lành và bà Trần Thu Trang.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Minh Dương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Hải Đăng - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai, vụ án hình sự thụ lý số: 11/2022/TLST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2022/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nhâm Văn P, sinh năm 1995 tại huyện A, tỉnh Kiên Giang; nơi cư trú: Ấp X, xã H, huyện A, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Sửa xe; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nhâm Văn u, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1966; có vợ Hồ Thị Tú T, sinh năm 1991 và có 01 con sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện An Biên từ ngày 19/9/2021 cho đến nay. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ 25 phút ngày 18/9/2021, Tổ tuần tra giao thông – hình sự Công an huyện An Biên tiến hành kiểm tra xe mô tô 65E1 - 420.61 do Nhâm Văn P điều khiển chạy từ T đi xã H. Qua kiểm tra phát hiện, bắt quả tang và thu giữ của Nhâm Văn P: 01 (Một) bịch nylon được hàn kín có kích thước khoảng 5cm x 3,5cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể trong suốt, không đồng nhất nghi là ma túy; 01 (Một) xe mô tô biển kiểm soát 65E1-420.61, đã qua sử dụng, không có mặt nạ trước, trầy xước nhiều chỗ.

Quá trình điều tra Nhâm Văn P khai nhận: Để có ma túy để sử dụng, khoảng 10 giờ ngày 18/9/2021, P điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 65E1-420.61 (xe mượn của Nguyễn Văn Vũ L) đến Nhà thiếu nhi huyện A thuộc khu phố A, thị trấn T, huyện A gặp S (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 01 (Một) bịch ma túy với giá 9.000.000đ (Chín triệu đồng). Mua được ma túy, P cất giấu trong người rồi điều khiển xe về phòng trọ B (thuộc ấp X, xã H) ngủ cho đến khoảng 21 giờ cùng ngày trên đường điều khiển xe về nhà thì bị bắt quả tang.

Tại Kết luận giám định số 886/KL-KTHS ngày 25/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận: Các hạt tinh thể trong suốt, không đồng nhất đựng trong 01 (Một) bịch nylon được niêm P gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 7,3151 gam.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP, ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Vật chứng của vụ án gồm: 01 (Một) bịch nylon được hàn kín, có kích thước 05 cm x 3,5 cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất nghi là ma túy; Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện An Biên đã trả lại cho Tô Thanh T 01 (Một) xe mô tô Biển kiểm soát 65E1-420.61, màu sơn đỏ đen, số máy JF18E0077089, số khung 18078Y000605, xe đã qua sử dụng, không có mặt nạ trước, trầy xước nhiều chỗ.

Tại bản Cáo trạng số 10/CT-VKSHAB ngày 08/02/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Nhâm Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh, tuyên bố bị cáo Nhâm Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Về hình phạt: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự tuyên xử bị cáo Nhâm Văn P từ 05 (Năm) đến 06 (Sáu) năm tù;

- Về biện pháp tư pháp: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: Các hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất chứa trong 01 (Một) bịch nylon còn lại sau khi giám định có khối lượng 7,2621 gam (đựng trong ba bịch nylon) và bao gói đựng mẫu được niêm P trong một P bì có ký hiệu số 886/2021. Có chữ ký của giám định viên Lê Đức Huy, người chứng kiến Võ Hữu Cảnh.

Theo quyết định chuyển giao vật chứng số 06/QĐ-VKS-HS ngày 08/02/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

Bị cáo Nhâm Văn P trình bày: Thừa nhận hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về với gia đình, chăm sóc vợ con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện An Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi thực hiện tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa đã làm rõ:

Để có ma túy sử dụng, khoảng 10 giờ ngày 18/9/2021, Nhâm Văn P điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 65E1-420.61 (xe mượn của Nguyễn Văn Vũ L) đến nhà thiếu nhi huyện A thuộc khu phố a, thị trấn T, huyện A gặp S (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 01 (Một) bịch ma túy với giá 9.000.000đ (Chín triệu đồng), mua được ma túy P cất giấu trong người rồi điều khiển xe về phòng trọ B (thuộc ấp X) ngủ cho đến khoảng 21 giờ cùng ngày trên đường điều khiển xe về nhà thì bị bắt quả tang. Theo kết luận giám định 01 (Một) bịch chứa ma túy đá loại Methamphetamine có khối lượng 7,3151 gam nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên truy tố bị cáo Nhâm Văn P về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi pháp luật cấm và vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì ham chơi, đua đòi mà bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng trái phép. Bị cáo biết rõ tác hại của việc sử dụng trái phép sẽ gây ra nhiều hệ lụy cho xã hội, gây ảnh hưởng sức khỏe, kinh tế, còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm và hành vi vi phạm pháp luật khác, làm mất an ninh trật tự xã hội và bất bình trong nhân dân. Do đó, cần xử bị cáo một mức án nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả bị cáo đã gây ra để bị cáo có đủ thời gian cải tạo, giáo dục trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội, đồng thời cũng nhằm phòng ngừa chung cho những người khác có ý định tương tự như bị cáo.

Đối với tên Sang là người bán ma túy cho Nhâm Văn P hiện chưa rõ nhân thân, lại lịch, Cơ quan Điều tra Công an huyện An Biên tiếp tục điều tra, xác minh rõ sẽ xử lý sau.

Xét về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại tòa hôm nay, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn khai báo, tỏ ra biết ăn năn hối cải; bản thân của bị cáo đã thực hiện xong nghĩa vụ quân sự. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét khi quyết định hình phạt cho bị cáo.

Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) túi giấy màu trắng được niêm P có chữ ký của Giám định viên Lê Đức Huy, người chứng kiến Võ Hữu Cảnh, có hình dấu tròn đỏ ghi chữ Phòng Kỹ Thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang niêm P mẫu vật, vụ số 886/2021. Theo Kết luận Giám định số 886/KL-KTHS, ngày 25/9/2021 của Phòng Kỹ Thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang, bên trong túi giấy chứa các hạt tinh thể trong suốt, không đồng nhất trong 01 (Một) bịch nylon được niêm P gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 7,3151 gam. Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng là 7,2621 gam và bao gói đựng mẫu được niêm P trong 01 (Một) P bì có ký hiệu vụ số: 886/2021.

Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên là có cơ sở. Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nhâm Văn P phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Nhâm Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Về hình phạt:

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nhâm Văn P 05 (Năm) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 19/9/2021.

2. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) túi giấy màu trắng được niêm P có chữ ký của Giám định viên Lê Đức Huy, người chứng kiến Võ Hữu Cảnh, có hình dấu tròn đỏ ghi chữ Phòng Kỹ Thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang niêm P mẫu vật, vụ số 886/2021. Theo Kết luận Giám định số 886/KL-KTHS, ngày 25/9/2021 của Phòng Kỹ Thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang, bên trong túi giấy chứa các hạt tinh thể trong suốt, không đồng nhất trong 01 (Một) bịch nylon được niêm P gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 7,3151 gam. Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng là 7,2621 gam và bao gói đựng mẫu được niêm P trong 01 (Một) P bì có ký hiệu vụ số: 886/2021.

Theo quyết định chuyển giao vật chứng số 06/QĐ-VKS-HS ngày 08/02/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

3. Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nhâm Văn P phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

5. Quyền kháng cáo:

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ