vanban.org

Bản án 16/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” của chị Nguyễn Thị Thu H đề ngày 02/12/2021.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu H được ly hôn với anh Nguyễn Xuân H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” của chị Nguyễn Thị Thu H đề ngày 02/12/2021.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ KONTUM
TỈNH KONTUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 11/5/2022
“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Bá Nghiên.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh V .

2. Ông Trương Duy C

Thư ký phiên tòa: Ông Tô Quang Đ - Thư ký Tòa án.

.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thành phố Kon Tum tham gia phiên tòa: Ông Trần Bá T – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Kon Tum xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 425/2021/TLST-HNGĐ ngày 07/12/2021 về việc“Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 07 tháng 4 năm 2022 và Quyết định Hoãn phiên tòa số 208/2022/QĐST-DS ngày 25/4/2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1994

Địa chỉ: Thôn Trung Thành, xã Vinh Quang, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum. (Có mặt)

- Bị đơn: Anh Nguyễn Xuân H, sinh năm 1978

Địa chỉ: 03/2 Đoàn Thị Điểm, phường Quyết Thắng, Thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum.

Nơi ở hiện nay: Tạm trú tại thôn Trung Thành, xã Vinh Quang, Thành phố

Kon Tum, tỉnh Kon Tum. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 02/12/2021, bản tự khai các tài liệu chứng cứ và tại phiên tòa nguyên đơn, chị Nguyễn Thị Thu H trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Xuân H tự nguyện kết hôn với nhau vào ngày 03 tháng 9 năm 2019 tại UBND phường Quyết Thắng, Thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống bình thường cho đến ngày 05/12/2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do anh H thường xuyên đi nhậu say về hay chửi bới những lời lẽ thô tục xúc phạm vợ, khi say không kiềm chế rồi đập phá, đánh đập vợ, có lần chị phải nhờ Công an đến làm việc. Mâu thuẫn đã được hai bên gia đình nội, ngoại khuyên bảo nhiều lần nhưng anh H không sửa chữa. Do mâu thuẫn quá căng thẳng nên trước đây chị H đã làm đơn xin ly hôn nhưng vì con còn nhỏ nên lại rút đơn về để đoàn tụ. Tuy nhiên sau một thời gian chung sống anh H vẫn không thay đổi mà mâu thuẫn vẫn tái diễn nên chị làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án xét xử cho chị được ly hôn với anh H trước pháp luật.

- Về con chung: Có 01 con chung là Nguyễn Minh Kh, sinh ngày 23/01/2020 nguyện vọng chị H xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh H cấp dưỡng.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Xuân H trình bày: Không.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên toà đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với nguyên đơn đã chấp Hành đầy đủ các quy định của pháp luật. Bị đơn trước khi mở phiên tòa đã được Tòa án triệu tập tham gia hòa giải nhưng không chấp Hành, nên được coi là đã từ bỏ một phần về quyền và nghĩa vụ đối với bị đơn.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, 36 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; các Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thu H.

Về án phí: chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền: Ngày 07/12/2021 Tòa án nhân dân Thành phố Kon Tum đã thụ lý vụ án xin ly hôn của nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Thu H. Xét thấy chị Nguyễn Thị Thu H và anh Nguyễn Xuân H đều có nơi cư trú tại Thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum do đó, yêu cầu ly hôn của chị H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Kon Tum theo quy định tại Điều 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa Bị đơn đã triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến Hành xét xử vụ án vắng mặt anh Nguyễn Xuân H.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Nguyễn Xuân H tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 03/9/2019 tại UBND phường Quyết Thắng, Thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum theo đúng quy định của pháp luật, không vi phạm điều kiện kết hôn, do đó quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Thu H và anh Nguyễn Xuân H là hôn nhân hợp pháp.

Qua quá trình thu thập chứng cứ thể hiện: Cuộc sống hôn nhân giữa chị H và anh H không được hạnh phúc, nguyên nhân do mâu thuẫn bất đồng trong cách sống. Theo chị H trình bày thì mâu thuẫn chủ yếu là do anh H không chăm lo làm ăn, thường xuyên đi nhậu say về hay chửi, mắng có lời lẽ thô tục xúc phạm về mặt tinh thần và còn đánh đập chị nhiều lần xâm phạm về mặt thể xác đối với chị một cách vô cớ. Mâu thuẫn xảy ra chị H đã phải nhờ Công an xã can thiệp và nhờ hai bên gia đình nội ngoại góp ý để anh H sửa chữa nhưng anh H vẫn không thay đổi. Có lần chị H đã nộp đơn ly hôn nhưng rút lại vì muốn cho anh H cơ hội đoàn tụ gia đình nhưng sau đó cuộc sống hôn nhân vẫn không hạnh phúc.

Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nguyện vọng của chị H tha thiết xin ly hôn với anh H là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Thu H.

Về con chung: Cháu Nguyễn Minh Kh, sinh ngày 23/01/2020 hiện đang được chị H chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục rất tốt nên xét giao cho chị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Minh Khang cho đến khi con đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con chị H không yêu cầu anh H cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, 39, Điều 271, 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 57, 58, 81,82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” của chị Nguyễn Thị Thu H đề ngày 02/12/2021.

- Về quan hệ hôn nhân:

Chị Nguyễn Thị Thu H được ly hôn với anh Nguyễn Xuân H.

- Về con chung: Giao con Nguyễn Minh Kh, sinh ngày 23/01/2020 cho chị H xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Về cấp dưỡng nuôi con chị H không yêu cầu anh H cấp dưỡng.

Anh Nguyễn Xuân H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con không ai được cản trở, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí: Căn cứ Điều 144, 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, Chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm; được đối trừ tiền nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0000498 ngày 03/12/2021 của Chi cục Thi Hành án dân sự Thành phố KonTum.

Trường hợp bản án được thi Hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi Hành án dân sự thì người được thi Hành án dân sự, người phải thi Hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi Hành án, quyền yêu cầu thi Hành án, tự nguyện thi Hành án hoặc bị cưỡng chế thi Hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi Hành án dân sự; thời hiệu thi Hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi Hành án dân sự.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án theo trình tự phúc thẩm. Riêng bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản bản án được niêm yết.

Cỡ chữ