- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Lê Thị Cẩm T xin ly hôn với anh Nguyen, Phu Ngoc"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Châu Thị Cẩm T.
- Căn cứ chính? Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2022/HNGĐ-ST Ngày: 05- 04 -2022 V/v tranh chấp: “Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Ngọc Tuyền.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lý Ngọc Lan.
Ông Nguyễn Đắc Thắng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lâm Hữu Nghĩa - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Hà Ngọc Thư Trúc - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 04 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 19/2021/TLST-HNGĐ ngày 14/4/2021 về tranh chấp “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2022/QĐXXST-ST ngày 19 tháng 01 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Châu Thị Cẩm T, sinh năm 1982; (xin vắng mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
Bị đơn: Anh Nguyen, Phu N, sinh năm 1964; (vắng mặt)
Địa chỉ: Hòa kỳ.
Quốc tịch: Hoa Kỳ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 07/04/2021 và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Châu Thị Cẩm T trình bày:
Chị Châu Thị Cẩm T và anh Nguyen, Phu N quen biết, tìm hiểu sau đó đi đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 02 ngày 05/02/2016. Sau khi kết hôn anh Nguyen, Phu N trở về Hoa Kỳ để làm thủ tục bảo lãnh chị Châu Thị Cẩm T sang Hòa Kỳ, thời gian làm thủ tục bảo lãnh chị T và anh Nguyen, Phu N ít liên hệ với nhau, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn không vui vẽ với nhau nữa, đến tháng 8/2017 anh Nguyen, Phu N về Việt Nam ở 03 tuần và dẫn chị T đi phỏng vấn. Sau khi kết quả phỏng vấn rớt do hồ sơ, chứng cứ chưa đầy đủ, lãnh sự quán yêu cầu bổ sung thêm hồ sơ nhưng anh Nguyen, Phu N nói nếu hồ sơ khó khăn quá thì hủy hồ sơ bảo lãnh, từ nguyên nhân trên nên vợ chồng không còn liên lạc với nhau nữa. Do khoản cách địa lý và thời gian dài không liên lạc với nhau nên chị T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị T yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị T yêu cầu được ly hôn với anh Nguyen, Phu N.
- Về con chung, nợ chung và tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyen, Phu N đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật nhưng vắng mặt trong suốt quá trình hòa giải, xét xử; cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của chị T, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T cho chị T được ly hôn với anh Nguyen, Phu N, về con chung, tài sản chung, nợ chung: chị T khai không có nên không đặt ra xem xét.
Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về quan hệ tranh chấp: Chị Châu Thị Cẩm T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Nguyen, Phu N nên xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp “Xin ly hôn” theo quy định tại Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về thẩm quyền giải quyết: Chị Châu Thị Cẩm T có đơn khởi kiện tranh chấp ly hôn với anh Nguyen, Phu N. Anh Nguyen, Phu N hiện đang cư trú tại số Hòa kỳ là đương sự ở nước ngoài. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37 và điểm c khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc ủy thác tư pháp, tống đạt các văn bản tố tụng cho anh Nguyen, Phu N theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 474 của Bộ luật Tố tụng dân sự; nhưng anh Nguyen, Phu N không nộp bản tự khai trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng mà không có lý do, vì vậy Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh anh Nguyen, Phu N theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chị Châu Thị Cẩm T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Châu Thị Cẩm T, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Chị Châu Thị Cẩm T và anh Nguyen, Phu N quen biết, tìm hiểu sau đó đi đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 02 ngày 05/02/2016 nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai của chị T Sau khi kết hôn anh Nguyen, Phu N trở về Hoa Kỳ để làm thủ tục bảo lãnh chị Châu Thị Cẩm T sang Hòa Kỳ, thời gian làm thủ tục bảo lãnh chị T và anh Nguyen, Phu N ít liên hệ với nhau, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn không vui vẽ với nhau nữa, đến tháng 8/2017 anh Nguyen, Phu N về Việt Nam ở 03 tuần và dẫn chị T đi phỏng vấn. Sau khi kết quả phỏng vấn không được do hồ sơ, chứng cứ chưa đầy đủ, lãnh sự quán yêu cầu bổ sung thêm hồ sơ nhưng anh Nguyen, Phu N nói nếu hồ sơ khó khăn quá thì hủy hồ sơ bảo lãnh, từ nguyên nhân trên nên vợ chồng không còn liên lạc với nhau nữa.
Nhận thấy, thời gian chung sống vợ chồng của chị T và anh Nguyen, Phu N không lâu nhưng lại có nhiều mâu thuẫn, đỉnh điểm của mâu thuẫn vợ chồng vào tháng 8/2017 khi anh Nguyen, Phu N làm thủ tục bảo lãnh chị T sang Hoa Kỳ để đoàn tụ nhưng không được và anh Nguyen, Phu N đã trở về Hoa Kỳ và từ đó đến nay không còn liên lạc với chị T nữa. Mục đích cơ bản của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc và bền vững; nhưng chị T và Nguyen, Phu N sống xa nhau một thời gian dài, lại không liên lạc khiến cho việc xây dựng gia đình không đạt được, càng không tạo được sự bền vững trong quan hệ vợ chồng. Thêm vào đó, từ khi chị T nộp đơn xin ly hôn đến nay, mặc dù đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật nhưng Nguyen, Phu N vẫn vắng mặt không lý do, không tham gia các phiên hòa giải, xét xử, cũng không nộp văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của chị T. Từ đó cho thấy anh Nguyen, Phu N không có ý định hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị T. Cả hai đã không còn tình cảm với nhau, việc kéo dài hôn nhân sẽ không mang lại hạnh phúc cho Chị Châu Thị Cẩm T và anh Nguyen, Phu N
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Chị Châu Thị Cẩm T đối với anh Nguyen, Phu N.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Chị T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Chị Châu Thị Cẩm T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Về chi phí tố tụng: Chị Châu Thị Cẩm T phải chịu chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài theo quy định tại khoản 3 Điều 153 Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng được khấu trừ vào các khoản tạm ứng mà chị đã nộp nên xem như chị đã hoàn thành xong nghĩa vụ chịu chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 40, khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 153, Điều 227, Điều 228, Điều 474, khoản 1 và 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Châu Thị Cẩm T.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Châu Thị Cẩm T và anh Nguyen, Phu N.
2. Về án phí: Chị Châu Thị Cẩm T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà chị T đã nộp theo biên lai số 0001698 ngày 14/4/2021 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tiền Giang, xem như chị đã nộp xong án phí sơ thẩm.
3. Về chi phí tố tụng: Chị Châu Thị Cẩm T phải chịu chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài theo quy định tại khoản 3 Điều 153 Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng được khấu trừ vào các khoản tạm ứng mà chị Tươi đã nộp nên xem như chị T đã hoàn thành xong nghĩa vụ chịu chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Châu Thị Cẩm T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm. Anh Nguyen, Phu N cư trú ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Tiền Giang; - Cục THADS tỉnh Tiền Giang; - UBND huyện Châu Thành; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lâm Ngọc Tuyền |