- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bản án 16"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: - Các điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2022/HNGĐ-ST Ngày: 10-3-2022 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N - NINH BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Hà Quang Văn
- Ông Nguyễn Văn Phiếu .
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bình - Thư ký Toà án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hòa – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 3 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện N mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 02/2022/TLST – HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2022 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bùi Thị H, sinh năm 1983
- Bị đơn: Anh Trương Văn X, sinh năm 1981
Địa chỉ: Bản Đồng C, xã Kỳ P, huyện N, tỉnh Ninh Bình.
Các đương sự có đơn xin xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 31 tháng 12 năm 2021 và bản tự khai, nguyên đơn Chị Bùi Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và Anh Trương Văn X kết hôn với nhau và có đăng ký tại UBND xã Cẩm P, huyện Cẩm T, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 02/3/2007 trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng anh chị sinh sống cùng gia đình chị tại Bản Đồng C, xã Kỳ P, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Tuy nhiên hai vợ chồng chỉ hạnh phúc được vài năm đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do không hợp nhau về mọi mặt, không có tiếng nói chung, vợ chồng không tin tưởng nhau về mặt tình cảm, vì vậy vợ chồng chị thường xảy ra cãi vã. Do vậy anh chị đã ly thân từ năm 2015 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai về mọi mặt. Nay chị xác định mâu thuẫn giữa chị và anh X trầm trọng, không còn tình cảm vợ chồng nên chị xin ly hôn với anh X để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Chị xác định giữa chị và anh X có 02 con chung là các cháu: Trương Anh T sinh ngày 01/02/2008;Trương Anh T Sang sinh ngày 02/12/2009. Hiện nay hai cháu đang ở với chị, nguyện vọng của chị xin được nuôi cả hai cháu. Chị không yêu cầu anh X cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản và công nợ chung: Chị không yêu cầu giải quyết.
Ý kiến bị đơn, Anh Trương Văn X thể hiện tại bản tự khai ngày 16/02/2022 và đơn xin xử vắng mặt:
Đối với bị đơn Anh Trương Văn X : Về thời điểm kết hôn và chung sống anh nhất trí như chị H trình bày là đúng. Theo anh vợ chồng anh mâu thuẫn là do không hợp nhau về mọi mặt, hiện nay anh chị đã ly thân. Nay chị H xin ly hôn với anh thì anh cũng hoàn toàn nhất trí.
Ý kiến cháu Trương Anh T; Trương Anh T Sang thể hiện tại biên bản lấy lời khai ngày 14 tháng 02 năm 2022: Các cháu xác nhận đang ở với mẹ và bà ngoại. Nếu bố mẹ ly hôn các cháu xin tiếp tục ở với mẹ, vì các cháu đang học ổn định tại xã Kỳ P.
Ngày 04 tháng 01 năm 2022 Tòa án nhân dân huyện N đã thụ lý vụ án về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo đơn khởi kiện của Chị Bùi Thị H. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện N đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng thủ tục pháp luật quy định. Tuy nhiên đối với Anh Trương Văn X đã không đến để tham gia các phiên hòa giải tại Tòa án, vì vậy vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được và được đưa ra xét xử theo thủ tục chung.
Tại đơn xin xử vắng mặt, nguyên đơn, bị đơn vẫn giữ nguyên quan điểm như bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
-Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Do bị đơn có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã Kỳ P, huyện N , tỉnh Ninh Bình nên Toà án nhân dân huyện N thụ lý giải quyết tranh chấp là đúng thẩm quyền theo quy định tại các Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật TTDS năm 2015. Việc thụ lý vụ án đúng quy định của pháp luật.
- Việc xác định quan hệ tranh chấp: Căn cứ đơn khởi kiện, Thẩm phán xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” là đúng quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về thời hạn chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Quyết định đưa vụ án ra xét xử đảm bảo về hình thức, nội dung.
- Thời hạn gửi hồ sơ, văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát: Đảm bảo quy định của pháp luật, việc tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Việc giao nộp tài liệu chứng cứ: Thực hiện đúng các quy định tại Điều 96 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, các tài liệu là bản sao đều có chứng thực của cơ quan có thẩm quyền.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đúng các quy định tại Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đã có đơn xin xử vắng mặt. Bị đơn không thực hiện đúng các quy định tại Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, không có mặt tại phiên tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải mặc dù đã được triệu tập hợp lệ.
Đề nghị HĐXX: Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 5, 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị tuyên:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Bùi Thị H. Xử ly hôn giữa Chị Bùi Thị H và Anh Trương Văn X .
2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Giao các cháu Trương Anh T sinh ngày 01/02/2008; Trương Anh T Sang sinh ngày 02/12/2009 cho chị H tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Anh X không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H.
3. Về án phí ly hôn: Chị Bùi Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí Toà án .
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về thủ tục tố tụng:
. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là quan hệ pháp luật “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại xã Kỳ P, huyện N , tỉnh Ninh Bình nên Tòa án nhân dân huyện N , tỉnh Ninh Bình thụ lý vụ án là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
. Về nội dung: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa HĐXX nhận thấy:
.Về quan hệ hôn nhân:
Quan hệ hôn nhân giữa Chị Bùi Thị H và Anh Trương Văn X là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên hai bên chỉ chung sống được với nhau thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do hai bên bất đồng quan điểm, không hợp nhau về mọi mặt. Cuộc sống vợ chồng của chị H và anh X thường xảy ra xung đột và kéo dài, hai bên đã ly thân từ năm 2015 cho đến nay. Điều đó chứng tỏ quan hệ hôn nhân giữa hai bên chỉ còn tồn tại về mặt hình thức, mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H với anh X là có căn cứ, phù hợp Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
.Về con chung: Chị H và anh X có 02 con chung là các cháu Trương Anh T sinh ngày 01/02/2008;Trương Anh T Sang sinh ngày 02/12/2009, hiện hai cháu đang ở với chị H. Nguyện vọng của chị H xin tiếp tục nuôi cả hai cháu và không yêu cầu anh X cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện nay chị H khỏe mạnh, có thu nhập, các cháu đều đang đi học và sinh sống ổn định cùng chị H tại xã Kỳ P, huyện N, tỉnh Ninh Bình và có nguyện vọng ở với chị H. Mặt khác quá trình giải quyết anh X cũng đồng ý cho chị H tiếp tục nuôi cả hai cháu. Do vậy, để đảm bảo sự ổn định, lợi ích mọi mặt của các cháu, đảm bảo quy định của pháp luật nên giao các cháu Anh T và T Sang cho chị H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là có căn cứ theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình.
. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị H không có yêu cầu vì vậy không đặt ra việc giải quyết.
. Về tài sản chung, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Bùi Thị H phải chịu theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí Toà án.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Các điều 147, 227, 228, 238, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Áp dụng: - Các điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí Toà án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Bùi Thị H. Xử ly hôn giữa Chị Bùi Thị H và Anh Trương Văn X .
2. Về con chung: Giao các cháu Trương Anh T sinh ngày 01/02/2008; Trương Anh T Sang sinh ngày 02/12/2009 (hiện hai cháu đang ở với chị H) cho chị H tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc khi có thay đổi khác. Anh X không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây: Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con; Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên. Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự. Trong trường hợp có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 84 thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con: Người thân thích; Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ.
3. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Bùi Thị H phải chịu theo quy định của pháp luật là 300.000 đồng. Được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí Chị Bùi Thị H đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0003449 ngày 04/01/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện N .
4. Quyền kháng cáo: Chị Bùi Thị H và Anh Trương Văn X được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND huyện N ; - Chi cục THADS huyện N ; - UBND xã Cẩm P, H. Cẩm Thủy, T. Thanh Hóa; - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (đã ký) NGUYỄN THỊ HƢƠNG QUỲNH |