- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn do MTGĐ"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN NAM TỈNH BÌNH THUẬN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2022/HNGĐ-ST Ngày: 05/5/2022. Về việc: “Ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN NAM, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Vũ.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Thông Minh Tấn;
2. Ông Hoàng Văn Tâm;
- Thư ký phiên tòa: ông Ngô Duy Khánh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hàm Thuận Nam tham gia phiên
toà: Bà Phạm Thị Ry – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân Hàm Thuận Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 336/2021/TLST – HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2021 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2022/QĐXX-HNGĐ ngày 17/3/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2022/QĐST-HNGĐ ngày 14/4/2022, giữa các đương sự: Nguyên đơn: bà Ng.Th.M.D – sinh năm 1997 (có mặt) Địa chỉ: thôn Đ.Th, xã M.M, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận. Bị đơn:
ông L.H – sinh năm 1995 (vắng mặt) Địa chỉ: thôn D.Th, xã H.Th, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Ng.Th.M.D trình bày: bà và ông L.H chung sống với nhau từ tháng 11 năm 2020, bà và ông L.H có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H.Th, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận vào ngày 21/4/2020.
Bà và ông L.H qua quá trình tìm hiểu rồi đăng ký kết hôn, sau đó sinh con rồi mới chính thức cưới hỏi vào tháng 11/2020. Sau khi cưới bà và ông L.H cùng chung sống tại nhà gia đình chồng ở H.Th, bà và ông L.H sống hạnh phúc được vài tháng đầu. Khoảng 3-4 tháng sau, ông Hùng hay đi chơi nhậu nhẹt với bạn bè, dùng thuốc kích thích rồi về nhà đánh bà, đánh cả nhà, mọi người trong gia đình chồng đều chứng kiến.
Khoảng tháng 2 – 3 năm 2021, con bà bệnh chỉ có 1 mình bà lo lắng còn ông Hùng chỉ lo đi nhậu, bà có nói thì bì ông Hùng chửi xúc phạm bà, sau đó ông Hùng lấy đồ đạc của bà ra rồi đuổi bà đi. Nên bà mới ôm con về nhà mẹ ruột bà ở cho đến nay. Thời gian bà ở nhà mẹ ruột bà từng nộp đơn ly hôn nhưng ông Hùng và gia đình có đến gặp bà tác động, bà cũng đồng ý rút đơn và quay lại chung sống với anh, bà và ông Hùng ở nhà cha mẹ ruột bà. Nhưng ông Hùng vẫn không thay đổi, vẫn nhậu nhẹt quậy phá, ông Hùng có biểu hiện lơ ngơ, không kiểm soát được hành vi, luôn tưởng tượng có người theo dõi mình và nối cáu chửi bới mọi người, hơn nữa ông Hùng còn đem tài sản chung của vợ chồng bán hết để ra ngoài ăn chơi, bao bạn bè ăn nhậu.
Tháng 6 năm 2021 bà và ông L.H gây gỗ nhau, ông Hùng bỏ đi lung tung một thời gian rồi về nhà cha mẹ ruột ở H.Th ở cho đến nay. Từ đó 2 bên bà và ông L.H không còn liên hệ gì với nhau. Nay bà không còn tình cảm gì với ông Hùng L.H nữa. Bà yêu cầu được ly hôn với ông L.H.
Về con chung: bà và ông L.H có 01 con chung tên tên L.M.K (sinh ngày 18/5/2020) hiện nay con đang ở với bà. Bà yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con và không yêu cầu cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu giải quyết
Quá trình giải quyết bị đơn là ông L.H không đến Tòa án để trình bày ý kiến mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần
Vụ án không tiến hành hòa giải do bị đơn ông L.H vắng mặt mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam phát biểu ý kiến:
Trong quá trình giải quyết Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện các thủ tục đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm, thành phần Hội đồng xét xử đúng theo quyềt định đưa vụ án ra xét xử.
Nguyên đơn thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.
Bị đơn không thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Đề nghị Tòa án nhân dân Hàm Thuận Nam chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ng.Th.M.D, cho bà Ng.Th.M.D được ly hôn với ông L.H;
Về nuôi con: đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu nuôi con của bà Ng.Th.M.D.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Ng.Th.M.D nộp đơn xin ly hôn với ông L.H (Cư trú tại: thôn D.Th, xã H.Th, huyện Hàm Thuận Nam, Bình Thuận), căn cứ theo quy định tại khoản 1 điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận.
Về việc xét xử vắng mặt đương sự: bị đơn là ông L.H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 vẫn vắng mặt. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.
Về yêu cầu khởi kiện:
về quan hệ hôn nhân: Với các tài liệu, chứng cứ thu thập trong quá trình giải quyết vụ án đã thể hiện giữa nguyên đơn và bị đơn có nhiều mâu thuẫn trong thời gian chung sống; hai bên đã không còn chung sống từ năm 2021 đến nay.
Như vậy, có thể khẳng định rằng tình trạng hôn nhân giữa bà Ng.Th.M.D và ông L.H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Ng.Th.M.D.
[3.2] Về con chung: xét thấy cháu L.M.K hiện đang do bà Ng.Th.M.D trực tiếp nuôi dưỡng, bà Duyên có đủ điều kiện để nuôi con, hơn nữa cháu L.M.K chưa đủ 36 tháng tuổi. Do đó căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con của bà Ng.Th.M.D.
Bà Ng.Th.M.D không yêu cầu ông L.H cấp dưỡng nuôi con nên không buộc ông L.H phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và nghĩa vụ chung: không xem xét.
Về án phí: Bà Ng.Th.M.D chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Khoản 1 điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 điều 39, Điều 143, 144, và Điều 266, 267, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Điều 56, 81, 82, 83, 84, 85 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
[1] Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ng.Th.M.D, bà Ng.Th.M.D được ly hôn với ông L.H.
[2] Về con chung: chấp nhận yêu cầu của bà Ng.Th.M.D, giao cho bà Ng.Th.M.D được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung chưa thành niên tên L.M.K (sinh ngày 18/5/2020), hiện nay con đang ở với bà Ng.Th.M.D.
Ông L.H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vieäc thay ñoåi ngöôøi tröïc tieáp nuoâi con sau khi ly hoân coù theå ñöôïc thöïc hieän theo quy ñònh của pháp luật.
* Về án phí: Bà Ng.Th.M.D chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm dân sự đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số N0 0000430 ngày 15/11/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Nam. Bà Ng.Th.M.D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - đương sự - VKSND Hàm Thuận Nam - VKSND tỉnh Bình Thuận - THADS Hàm Thuận Nam - Lưu | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lê Thị Thúy Vũ |