vanban.org

Bản án 16/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Thạch Thị L.

Về hôn nhân: Xử cho chị Thạch Thị L được ly hôn với anh Trần Rách T Na. Về nuôi con: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn giữa L và N"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Thạch Thị L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẦU NGANG
TỈNH TRÀ VINH
Bản án số: 16/2022/HNGĐ-ST
Ngày 16/12/2022.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lý Thanh Lâm.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Được.

Ông Huỳnh Văn Đương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Đầy, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tấn An– Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 14/2022/TLST-HNGĐ, ngày 22/9/2022, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2022/QĐXXST-HN, ngày 15/11/2022 và Quyết định Hoãn phiên tòa số: 07/2022/QĐST-HN, ngày 01/12/2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Thạch Thị L, sinh năm 1998. Địa chỉ: Ấp C, xã T Sơn, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh. Có mặt.

Bị đơn: Anh Trần Rách Ta N, sinh năm 1992. Địa chỉ: Ấp K, xã K, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh. Vắng mặt lần thứ hai, không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 12/8/2022 và trong quá trình xét xử nguyên đơn chị Thạch Thị L trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Trần Rách Ta N xác lập hôn nhân và có đăng ký kết hôn ngày 20/12/2018 tại UBND xã T, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh, vợ chồng cùng đi đăng ký kết hôn. Khi tiến đến hôn nhân, chị và anh N quen nhau khoảng 02 năm, rồi tiến hành lễ cưới theo phong tục tập quán. Nữ trang ngày cưới bán hết không còn.

Sau ngày cưới chị và anh N đi làm tại thành phố Hồ Chí Minh, chị làm nghề hỗ trợ vay thế chấp, anh N làm nhà hàng, sống khoảng 01 năm thì anh N bị tai nạn giao thông không đi làm được nên về quê sinh sống, sau khi chị sinh con được 05 tháng, tiếp tục đến thành phố Hồ Chí Minh làm việc, lúc này phát sinh mâu thuẫn về lối sống, ứng xử giao tiếp, thu nhập tiền mạnh ai nấy tiêu xài, anh N tự ý mua xe không bàn bạc, trao đổi gì với chị, trong khi cuộc sống gia đình gặp nhiều khó khăn, anh không phụ tiền để nuôi con, không quan tâm đến cuộc sống gia đình, mình chị tự lo liệu, từ đó dẫn đến gây gỗ, cải vã với nhau rất nhiều lần, không chung sống được, lúc này mạnh ai nấy thuê nhà trọ để sống, không còn qua lại nhau, ly thân từ tháng 4 năm 2021 đến nay, chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn. Nay yêu cầu giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Rách Ta N.

- Về nuôi con tên: Trần Quốc Thiên B, sinh ngày 28/10/2020, con đang sống với chị. Chị xin được quyền nuôi dưỡng con khi ly hôn.

- Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung vợ chồng, số nợ phải thu, phải trả: Chị không tranh chấp, không khởi kiện. Ngoài ra chị không yêu cầu gì khác.

Tại phiên tòa xét xử lần thứ hai, bị đơn anh Trần Rách Ta N vắng mặt không lý do, nên không có lời trình bày.

Lời phát biểu của Kiểm sát viên.

- Về việc tuân theo pháp luật: Thủ tục thụ lý hồ sơ vụ án, xác định quan hệ pháp luật, xác định người tham gia tố tụng, thành phần tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, thành phần Hội đồng xét xử đều đúng quy định pháp luật. Các văn bản tố tụng từ khi nhận đơn khởi kiện đến khi Quyết định đưa vụ án ra xét xử đều tống đạt đầy đủ. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị L, xử cho chị L được ly hôn với anh N, giao con tên Trần Quốc Thiên B, sinh ngày 28/10/2020 cho chị L được quyền nuôi dưỡng khi ly hôn. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung vợ chồng và số nợ phải thu, phải trả do các đương sự không tranh chấp, không khởi kiện nên không xem xét giải quyết. Buộc chị L nộp án phí hôn nhân theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

[1]. Về thủ tục tố tụng: Xét thấy anh Trần Rách Ta N là bị đơn trong vụ án, tại phiên tòa lần thứ hai, anh N vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Xét thấy chị L khởi kiện anh N yêu cầu giải quyết cho chị được ly hôn với anh N, chị xin được quyền nuôi dưỡng con khi ly hôn, ngoài ra không yêu cầu gì khác. Căn cứ khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ pháp luật giải quyết là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn:

- Về hôn nhân: Xét thấy chị L và anh N xác lập hôn nhân và có đăng ký kết hôn ngày 20/12/2018 tại UBND xã T, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh, vợ chồng cùng đi đăng ký kết hôn. Từ đó xác định đây là hôn nhân hợp pháp. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng:

Chị L khai: Sau ngày cưới chị và anh N đi làm tại thành phố Hồ Chí Minh, chị làm nghề hỗ trợ vay thế chấp, anh N làm nhà hàng, sống khoảng 01 năm thì anh N bị tai nạn giao thông không đi làm được nên về quê sinh sống, sau khi chị sinh con được 05 tháng, tiếp tục đến thành phố Hồ Chí Minh làm việc, lúc này phát sinh mâu thuẫn về lối sống, ứng xử giao tiếp, thu nhập tiền mạnh ai nấy tiêu xài, anh N tự ý mua xe không bàn bạc, trao đổi gì với chị, trong khi cuộc sống gia đình gặp nhiều khó khăn, anh không phụ tiền để nuôi con, không quan tâm đến cuộc sống gia đình, mình chị tự lo liệu, từ đó dẫn đến gây gỗ, cải vã với nhau rất nhiều lần, không chung sống được, lúc này mạnh ai nấy thuê nhà trọ để sống, không còn qua lại nhau, ly thân từ tháng 4 năm 2021 đến nay, chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn. Nay yêu cầu giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Rách Ta N.

Đối với anh Trần Rách Ta N, Tòa án giao Thông báo thụ lý vụ án và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho người thân của anh N nhận, đồng thời Tòa án thông báo điện thoại cho anh N biết để anh tham gia tố tụng thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật, tại các phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải anh N đều vắng mặt không lý do và anh cũng không gửi ý kiến của anh về quan hệ hôn nhân mà chị L khởi kiện, phiên hòa giải đoàn tụ không tiến hành được, hôm nay tại phiên tòa lần hai, anh N tiếp tục vắng mặt, từ đó cho thấy khả năng hàn gắn đoàn tụ vợ chồng là không có kết quả.

Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh N xảy ra từ tháng 4 năm 2021 đến nay, anh chị đều bỏ mặt, mạnh ai nấy sống, không quan tâm đến tình nghĩa vợ chồng, đã ly thân nhau 18 tháng, chị Long xác định tình cảm không còn và cương quyết xin ly hôn không chung sống với anh N, từ đó làm cho mâu thuẫn tình cảm vợ chồng ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị L, xử cho chị L được ly hôn với anh N là đúng quy định pháp luật.

- Về nuôi con: Anh N và chị L chung sống sinh 01 người con tên Trần Quốc Thiên B, sinh ngày 28/10/2020. Xét thấy trong thời gian sống ly thân chị L chăm sóc nuôi dưỡng con chu đáo về mọi mặt, theo chị L trình bày anh N ít thăm con, không quan tâm đến việc nuôi dưỡng, 18 tháng qua, anh Na chỉ thăm con có 02 lần. Nay chị yêu cầu xin được quyền nuôi dưỡng con khi ly hôn, còn anh N thì không gửi ý kiến của anh về chăm sóc nuôi dưỡng con khi ly hôn.

Để tạo đều kiện cho con có cuộc sống ổn định nhằm phát triển lành mạnh về thể chất và tinh thần, Căn cứ Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao Trần Quốc Thiên B cho chị L được quyền trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng khi ly hôn là phù hợp với quy định pháp luật. Anh Trần Rách Ta N được quyền thăm và chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không đặt ra yêu cầu giải quyết. Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về tài sản chung vợ chồng và số nợ phải thu, phải trả: Các đương sự không tranh chấp, không khởi kiện. Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc chị Thạch Thị L có nghĩa vụ nộp theo quy định pháp luật.

. Xét lời của Kiểm sát viên trình bày về trình tự thủ tục tố tụng và hướng giải quyết vụ án nêu trên là phù hợp với quy định pháp luật và được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, các Điều 147, 228; 235, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 53, 54, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Thạch Thị L.

- Về hôn nhân: Xử cho chị Thạch Thị L được ly hôn với anh Trần Rách T Na.

- Về nuôi con:

+ Chị Thạch Thị L được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con tên Trần Quốc Thiên B, sinh ngày 28/10/2020 khi ly hôn.

+ Anh Trần Rách Ta N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền ngăn cản. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trỡ người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc chị Thạch Thị L nộp 300.000 đồng nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà chị L đã nộp theo biên lai thu tiền số 0010954, ngày 21/9/2022 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Ngang thu. Chị Thạch Thị L đã nộp đủ án phí.

- Về quyền kháng cáo:

+ Chị Thạch Thị L có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

+ Anh Trần Rách Ta N vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày anh nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”./.

Cỡ chữ