vanban.org

Bản án 16/2022/HC-ST — Hành chính

TAND tỉnh Đồng Nai Tuyên án 31/05/2022 Hành chính Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Sỹ T. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 386347 cấp ngày 20/3/2013 cho ông Phan Văn H đối với thửa đất số 297, tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại xã G, huyện Đ, tỉnh Đ.

Về án phí: Ủy ban nhân dân huyện Đ phải chịu tiền án phí hành chính sơ thẩm là 300.000đ. Về quyền kháng cáo: Ông Ngô Sĩ T, Ủy ban nhân dân huyện Đ, ông Phan Văn H, ông Nguyễn Văn N và bà Mai Thị H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Sỹ T. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 386347 cấp ngày 20/3/2013 cho ông Phan Văn H đối với thửa đất số 297, tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại xã G, huyện Đ, tỉnh Đ.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 148/2020/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số Nghị địn…; Điều 106 Luật Đất đai; Điều 115 Luật tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH Đ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2022/HC-ST
Ngày: 31/5/2022.
V/v: “Khiếu kiện yêu cầu hủy
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH Đ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Phan Thanh Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Công Khánh

2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Hiệp

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đ tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thanh Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 99/2021/TLST-HC ngày 01 tháng 7 năm 2021 về “Khiếu kiện yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2022/QĐXXST-HC ngày 15 tháng 4 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 211/2022/QĐXXST-HC ngày 13 tháng 5 năm 2022 giữa các đương sự:

- Người khởi kiện: Ông Ngô Sĩ T, sinh năm: 1952.

Địa chỉ: Ấp 3, xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo ủy quyền của ông T:

Bà Lê Thị Thúy H, sinh năm: 1969.

Địa chỉ: Số 255, tổ 11, ấp 1, xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

(Theo Văn bản ủy ngày 08/7/2021).

- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện Đ.

Địa chỉ: Khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Quang T - Chức vụ: Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện Đ.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Ngô Tấn T - Chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ.

(Theo Văn bản ủy quyền số 3131/UBND-NC ngày 20/7/2021).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Phan Văn H, sinh năm: 1980.

Địa chỉ: Ấp 3, xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

2/ Ông Nguyễn Văn N, sinh năm: 1969.

3/ Bà Mai Thị H, sinh năm: 1971.

Cùng địa chỉ: Ấp 3, xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

(Ông H có mặt; bà H, ông T có đơn xin vắng mặt; ông N, bà H vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện ngày 26/4/2021, bản tự khai, biên bản biên bản đối thoại và tại phiên tòa Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện ông Ngô Sĩ T là bà Lê Thị Thúy H trình bày:

Vào năm 2006, ông T có nhận chuyển nhượng một thửa đất có diện tích 671m2, thuộc thửa 297, tờ bản đồ số 17 tại xã G. Ngày 12/7/2006, ông T đã làm hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất tại Ủy ban nhân dân xã G và Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ - chi nhánh Đ (đã có biên nhận hồ sơ của Văn phòng đăng ký đất đai). Từ khi đăng ký cho đến nay ông T chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên. Đến năm 2020, ông T biết được thửa đất số 297, tờ bản đồ số 17 của ông đã được cấp nhầm cho ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1969 và vợ là Mai Thị H, sinh năm 1971. Hiện nay ông N và bà H đã sang nhượng lại cho ông Phan Văn H, sinh năm 1980, trú tại: ấp 3, xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai và Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 386347 ngày 20/3/2013 cho ông Phan Văn H. Tổng diện tích thửa đất số 297, tờ bản đồ số 17 là 697m2 nhưng bị cấp nhầm sang cho ông H diện tích chỉ 586m2, diện tích còn lại chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Do đó, ông yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Đ hủy Quyết định hành chính cá biệt của Ủy ban nhân dân huyện Đ là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 386347 cấp ngày 20/02/2013 (thực tế trên giấy chứng nhận ghi ngày 20/3/2013) cho ông Phan Văn H đối với thửa đất số 297, tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

Ông T yêu cầu Tòa án không tiếp tục tiến hành đối thoại lần hai và đưa vụ án ra xét xử. Đối với ý kiến của ông H về việc chỉnh sổ đỏ của ông H thì ông Hphải tự chịu chi phí. Ông T đồng ý chịu chi phí về việc cấp lại sổ cho ông T.

Người khởi kiện ông Ngô Sĩ T thống nhất với trình bày của bà H và không có ý kiến gì thêm.

- Theo công văn số 4178 ngày 25/10/2021 của Ủy ban huyện Đ, Người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện Đ có ý kiến như sau:

Ủy ban nhân dân huyện Đ đã có văn bản số 3131/UBND-NC ngày 20/7/2021 của Ủy ban nhân dân huyện Đ về việc ủy quyền tham gia tố tụng vụ án ông T khiếu kiện Ủy ban nhân dân huyện Đ. Ủy ban nhân dân huyện Đ tiếp tục rà soát hồ sơ lưu trữ tại kho hồ sơ địa chính được lưu trữ tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ - chi nhánh Đ cung cấp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ gồm:

+ Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 290203 cấp ngày 14/6/2011 cho ông Nguyễn Văn N và bà Mai Thị H đối với thửa đất số 297, tờ bản đồ số 17, diện tích 586m2, mục đích sử dụng: 300m2 đất ở tại nông thôn và 286m2 đất trồng cây hàng năm khác tại xã G gồm:

- Bản sao lục Đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn N và bà Mai Thị H.

- Bản sao lục Đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 290203 cấp ngày 14/6/2011.

- Bản sao lục Quyết định số 2072/QĐ-UBND ngày 16/12/2010 của Ủy ban nhân dân huyện Đ về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại xã G (có kèm danh sách có tên người được cấp giấy là ông Nguyễn Văn N).

+ Hồ sơ công nhận việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 297, tờ bản đồ số 17, diện tích 586m2, mục đích sử dụng: 300m2 đất ở tại nông thôn và 286m2 đất trồng cây hàng năm khác tại xã G gồm:

- Bản sao lục hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 277, quyển số 01/2012 TP/CS-SCT/HĐGD do Ủy ban nhân dân xã G chứng thực ngày 26/11/2012 giữa bên chuyển nhượng là ông Nguyễn Văn N và bà Mai Thị H ngụ tại ấp 3, xã G với bên nhận chuyển nhượng là ông Phan Văn H tại ấp 3, xã G.

- Bản sao lục tờ trình số 34/TTr-TNMT ngày 15/3/2013 của Phòng tài nguyên và môi trường.

- Bản sao lục giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 290203 cấp ngày 14/6/2011 đã được Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ - chi nhánh Đ ký biến động chuyển quyền ngày 20/3/2013.

- Bản sao lục chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 386347 cấp ngày 20/3/2013 đã cấp cho ông Phan Văn H.

Ngoài ra, người đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân huyện Đ đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, đề nghị không tiếp tục tiến hành đối thoại vì nhận thấy khiếu kiện giữa ông T và Ủy ban nhân dân huyện Đ không cần thiết phải tiếp tục đối thoại tại Tòa án để vụ án được giải quyết nhanh chóng.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Phan Văn H trình bày:

Ông chỉ đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông T về việc yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Đ hủy Quyết định hành chính cá biệt của Ủy ban nhân dân huyện Đ là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 386347 cấp ngày 20/3/2013 cho ông Phan Văn H đối với thửa đất số 297, tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại xã G, huyện Đ, tỉnh Đ với điều kiện là Sở tài nguyên môi trường về đo lại đất của ông cho chính xác và cấp lại sổ đỏ cho ông đúng với thực tế sử dụng (trong đó có 300m2 thổ cư) thì ông hứa sẽ giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 386347 cấp ngày 20/3/2013 cho Tòa án để thực hiện việc cấp lại sổ cho ông T đúng quy định. Mọi chi phí về việc chỉnh lại sổ đỏ do ông T chịu.

Trên thực tế sử dụng thì đất của ông T đã được cấp sổ đỏ cho ông, còn đất của ông thì bị cấp cho ông Lê Công Đ, nguyên nhân cấp nhầm là do địa chính xã làm sai. Vì vậy, ông yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Đ có ý kiến đến Ủy ban nhân dân huyện Đ, Ủy ban nhân dân xã G chỉ đạo thực hiện đính chính lại sổ đỏ trùng khớp với diện tích thực tế sử dụng cho người dân.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn N, bà Mai Thị H đã được tống đạt hợp lệ văn bản tống tụng nhưng vắng mặt nên nên không có ý kiến trình bày.

- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đ tại phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã chấp hành và thực hiện theo đúng quy định của Luật tố tụng hành chính.

Việc tuân theo pháp luật của đương sự: Người khởi kiện thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Luật tố tụng hành chính. Người bị kiện chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật tố tụng hành chính. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đúng quy định của Luật tố tụng hành chính.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Đ.

Thời hiệu khởi kiện: Thởi hiệu khởi kiện vẫn còn theo quy định tại khoản 2 Điều 116 của Luật tố tụng hành chính.

Về quan hệ pháp luật: Tòa án xác định quan hệ pháp luật “Khiếu kiện yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” là đúng yêu cầu khởi kiện của đương sự, đúng quy định của pháp luật.

Về thời hạn giải quyết vụ án: Tòa án đảm bảo đúng thời hạn giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 130 của Luật tố tụng hành chính.

Về cấp, tống đạt văn bản tố tụng: Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Luật tố tụng hành chính.

Về thu thập chứng cứ: Tòa án đã thu thập đầy đủ chứng cứ theo quy định tại Điều 84 của Luật tố tụng hành chính.

Về đường lối giải quyết vụ án:

Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Phan Văn Hiến là đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục quy định của pháp luật.

Về nội dung, tính có căn cứ của quyết định hành chính bị khởi kiện: Việc Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N và bà H khi chưa xem xét giải quyết tranh chấp việc một thửa đất có hai người đăng ký, không xem xét đơn đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T mà cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N bà H khi việc đăng ký không đảm bảo pháp luật là không đúng quy định của Luật đất đai năm 2003.

Từ những phân tích trên cho thấy yêu cầu khởi kiện của bà T là có cơ sở nên được chấp nhận. Đề nghị căn cứ khoản 2, điều 106 Luật đất đai, khoản 2 Điều 193 của luật tố tụng hành chính: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Sỹ T. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 386347 cấp ngày 20/3/2013 cho ông Phan Văn H đối với thửa đất số 297, tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại xã G, huyện Đ, tỉnh Đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật: Ông Ngô Sĩ T yêu cầu Tòa án giải quyết hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 386347 cấp ngày 20/02/2013 cho ông Phan Văn H đối với thửa đất số 297, tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại xã G, huyện Đ, tỉnh Đ. Vì vậy, xác định quan hệ pháp luật là “Khiếu kiện yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Về thẩm quyền giải quyết: Ông T khởi kiện yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Đ, theo quy định tại Điều 30, Điều 32 của Luật tố tụng hành chính.

Về thời hiệu: Năm 2006, ông T đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 297, tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại xã G, huyện Đ, tỉnh Đ nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2020, ông T mới biết thửa đất của mình đăng ký đất đã được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp cho ông Nguyễn Văn N và bà Mai Thị H năm 2010. Năm 2012, ông N và bà H chuyển nhượng cho ông Phan văn H. Năm 2013, Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Phan Văn H đối với thửa đất số 297, tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại xã G, huyện Đ, tỉnh Đ. Ngày 12/4/2021, ông T có đơn khởi kiện, do đó việc khởi kiện của người khởi kiện ông Ngô Sĩ T là còn thời hiệu theo quy định tại Điều 116 của Luật tố tụng hành chính.

Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Người khởi kiện, Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện Đ và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Văn H có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn N và bà Mai Thị H đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 157, Điều 158 của Luâ ̣t tố tu ̣ng hành chinh, tiếń hành xét xử vắng mă ̣t các đương sự theo quy định.

Xét tính hợp pháp của việc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn Hiến:

Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Phan Văn H:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Ông Nguyễn Văn N và bà Mai Thị H được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 297, tờ bản đồ số 17, diện tích 586m2, tại xã G ngày 14/6/2011. Ngày 26/11/2012, ông N và bà H chuyển nhượng diện tích thửa đất này và thửa đất số 296 + thửa đất số 309 cho ông Phan Văn H, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân dân xã G xác nhận ngày 26/11/2012 (bút lục 35, 36). Phòng Tài nguyên và môi trường huyện Đ có tờ trình số 34/TTr-TNMT ngày 15/3/2013 đề nghị công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ủy ban nhân dân huyện Đ đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 386347 ngày 20/3/2013 cho ông Phan Văn H đối với thửa đất số 297, tờ bản đồ số 17, diện tích 586m2 tọa lạc tại xã G và chỉnh lý trang 4 cho ông H đối với thửa đất số 296 và thửa đất số 309 ngày 20/3/2013 trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AQ 004118 cấp cho ông N và bà H ngày 09/12/2009. Như vậy, Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 386347 cấp ngày 20/3/2013 cho ông Phan Văn H đối với thửa đất số 297, tờ bản đồ số 17, diện tích 586m2 tọa lạc tại xã Gia Canh, huyện Đ, tỉnh Đ là đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Luật đất đai năm 2003.

: Xét tính hợp pháp của việc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Phan Văn H đối với thửa đất số 297, tờ bản đồ số 17, diện tích 586m2 tọa lạc tại xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai:

Về nguồn gốc đất:

Theo đơn khởi kiện thì ông T xác định thửa đất số 297, tờ bản đồ số 17, diện tích 586m2 tọa lạc tại xã G, huyện Đ là ông nhận chuyển nhượng của người khác, còn theo đơn đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 12/7/2006 của ông Ngô Sĩ T (bút lục số 89) thể hiện nguồn gốc đất do nông trường Cao Cang cấp năm 1984. Theo chứng cứ thu thập được (bút lục số 31 -> 36) thì nguồn gốc đất của ông Phan Văn H nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Văn N và bà Mai Thị H. Căn cứ đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn N không ghi ngày tháng, được Ủy ban nhân dân xã G xác nhận cũng không ghi ngày tháng và được Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ - chi nhánh Đ xác nhận 10/10/2010 (bút lục 39) thể hiện nguồn gốc đất ông Trương Quang M cho sử dụng năm 1992.

Xét việc đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các đương sự trong vụ án:

Theo chứng cứ người khởi kiện cung cấp thì ông T đăng ký xin cấp giấy đối với thửa đất số 297, tờ bản đồ số 17, diện tích 586m2 tọa lạc tại xã G, huyện Đ vào ngày 12/7/2006 (bút lục 89), được Ủy ban nhân dân xã G xác nhận ngày 09/4/2007. Căn cứ đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 297, tờ bản đồ số 17, diện tích 586m2 tọa lạc tại xã G, huyện Đ của ông Nguyễn Văn N không ghi ngày tháng, được Ủy ban nhân dân xã G xác nhận cũng không ghi ngày tháng và được Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ - chi nhánh Đ xác nhận 09/9/2010 (bút lục 39). Như vậy, việc đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T có ghi ngày tháng năm đăng ký và được Ủy ban nhân dân xã xác nhận, đóng dấu, ghi ngày tháng năm cụ thể là đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật. Đồng thời, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ - chi nhánh Đ xác định đơn xin cấp giấy của ông N dù được Ủy ban nhân dân xã G xác nhận nhưng không ghi ngày tháng là chưa đảm bảo trình tự, thủ tục theo quy định (bút lục 120). Tuy nhiên, việc cùng một thửa đất nhưng cả ông T và ông N cùng đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đây là trường hợp có tranh chấp về quyền sử dụng đất, chưa đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Điều 50 của luật đất đai. Ủy ban nhân dân xã G không xác minh rõ tình trạng tranh chấp theo hướng dẫn tại điểm a khoản 2 Điều 135 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật đất đai 2003 mà đã lập hồ sơ và chuyển hồ sơ đến cấp có thẩm quyền xem xét cấp giấy cho ông Nguyễn Văn N và bà Mai Thị H (người có đơn đăng ký chưa đúng trình tự, thủ tục) là không đúng quy định nêu trên, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông T. Bên cạnh đó, Tòa án cũng tiến hành xác minh việc niêm yết danh sách người đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân xã G xác định có niêm yết theo quy định, có thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng nhưng hồ sơ lưu bị thất lạc nên không còn để cung cấp cho Tòa án (bút lục 116, 123). Hơn nữa, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ - chi nhánh Đ cũng xác định ông Ngô Sĩ T đăng ký cấp giấy từ năm 2006 nhưng đến năm 2013 sau khi Phòng tài nguyên môi trường có văn bản đôn đốc các xã bàn giao hồ sơ đăng ký tập trung còn tồn động thì Văn phòng mới nhận được hồ sơ và đưa vào lưu trữ theo dạng không đủ điều kiện (bút lục 20), chứng tỏ Ủy ban nhân dân xã G và Văn Phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ - chi nhánh huyện Đ không xem xét đơn đăng ký quyền sử dụng đất của ông T, chưa đảm bảo quy định tại Điều 123 của Luật đất đai năm 2003 quy định về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người đang sử dụng đất, chưa làm hết trách nhiệm trong việc kiểm tra hồ sơ cấp giấy theo quy định tại Điều 135 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 đã làm ảnh hưởng đế quyền lợi hợp pháp của ông T. Như vậy, cùng một thửa đất nhưng có nguồn gốc khác nhau, có hai người đăng ký là đất tranh chấp chưa đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận của huyện Đ không xác minh làm rõ nguồn gốc đất ông T và ông N kê khai có hợp pháp không, chưa giải quyết tranh chấp đất đai giữa ông N và ông T (nếu có) mà đề nghị cấp giấy chứng nhật quyền sử dụng đất cho ông N và bà H đối với thửa đất số 297, tờ bản đồ số 17 là không đúng quy định của Luật đất đai năm 2003.

Qua phân tích trên, việc Văn phòng đăng ký đất đai - chi nhánh Đ cho rằng việc xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn N và bà Mai Thị H đúng trình tự, thủ tục (bút lục 40) là không có căn cứ chấp nhận. Việc Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N và bà H không đúng trình tự, thủ tục, cấp giấy khi chưa có đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 50 của Luật đất đai năm 2003 (như xác minh về nguồn gốc đất, xác định rõ tình trang đất có tranh chấp hay không…) dẫn đến việc ông N và bà H chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông H cũng không đảm bảo quy định của pháp luật đất đai về chuyển quyền sử dụng đất. Do đó, Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 386347 ngày 20/3/2013 cho ông Phan Văn H đối với thửa đất số 297, tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại xã G, huyện Đ, tỉnh Đ là chưa đảm bảo căn cứ theo quy định của pháp luật đất đai.

Bên cạnh đó, do ông N và bà H đã thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông H nên theo điểm d, khoản 2, Điều 106 của Luật đất đai 2013; Điều 87 Nghị Định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết về thi hành một số điều của Luật đất đai; Khoản 26 Nghị định số 148/2020/NĐ-CP ngày 18/12/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành luật đất đai thì Ủy ban nhân dân huyện Đ không được phép thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp sai.

Từ những phân tích trên cho thấy yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Sĩ T là có căn cứ, nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 386347 cấp ngày 20/3/2013 cho ông Phan Văn H đối với thửa đất số 297, tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại xã G, huyện Đ, tỉnh Đ.

Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất BE 290203 Ủy ban nhân dân huyện Đ đã cấp cho ông N và bà H ngày 14/6/2011 thì Văn phòng đăng ký đất đai - chi nhánh Đ đã thu hồi sau khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 386347 cho ông Phan Văn H nên không xem xét.

Về chi phí tố tụng: Bà Lê Thị Thúy H tự nguyện chịu chi phí tố tụng là 400.000đ. Bà H đã nộp đủ tiền chi phí tố tụng.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của ông T được được chấp nhận nên Ủy ban nhân dân huyện Đ phải chịu án phí hành chính sơ thẩm là 300.000đ. Ông Ngô Sĩ T là người cao tuổi thuộc trường hợp không phải nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định của Nghị quyết số 326 ngày 31/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Ông Ngô Sĩ T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Ủy ban nhân dân huyện Đ, ông Phan Văn H, ông Nguyễn Văn N và bà Mai Thị H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ nên chấp nhận.

Vì những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 3, 30, 32, 115, 116, 157, 158, 193, 194, 206 của Luật tố tụng hành chính 2015;

Áp dụng Điều 23, Điều 50 của Luật đất đai năm 2003;

Áp dụng Điều 106 của Luật đất đai năm 2013;

Áp dụng Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật đất đai 2003;

Áp dụng Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai;

Áp dụng Nghị định số 148/2020/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành luật đất đai;

Áp dụng Nghị quyết số 326 ngày 31/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Sỹ T. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 386347 cấp ngày 20/3/2013 cho ông Phan Văn H đối với thửa đất số 297, tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại xã G, huyện Đ, tỉnh Đ.

Về án phí: Ủy ban nhân dân huyện Đ phải chịu tiền án phí hành chính sơ thẩm là 300.000đ.

Về quyền kháng cáo: Ông Ngô Sĩ T, Ủy ban nhân dân huyện Đ, ông Phan Văn H, ông Nguyễn Văn N và bà Mai Thị H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

-----------------------------------------

Cỡ chữ