vanban.org

Bản án 16/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND Quận 11, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 24/01/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.

thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCPSGTT về việc yêu cầu Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.
  • Căn cứ chính? Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN Quy định về hoạt động cho vay củ…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2022/DS-ST
Ngày: 24/01/2022
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Vũ Vân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Khưu Hán Quang

2. Bà Nguyễn Thị Trúc Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Quyên- Thư ký Tòa án nhân dân Quận 11.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 tham gia phiên tòa: Bà

Trương Võ Thùy Dung- Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố

Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 180/2020/TLST-DS ngày 10 tháng 12 năm 2020 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2021/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 6 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 60/2021/QĐST-DS ngày 30 tháng 6 năm 2021, Thông báo dời thời gian mở phiên tòa số 75/2021/TB-TA ngày 26 tháng 7 năm 2021 và Thông báo mở lại phiên tòa số 99/2021/TB-TA ngày 27 tháng 12 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCPSGTT (gọi tắt là X); địa chỉ: số x-x đường

xxxx, Phường x, Quận x, Thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông VNKD, sinh năm 1996; địa chỉ: x

đường xx, Phường x, Quận x, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền số 09/2020/GUQ-CNBT ngày 07/01/2021), (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt);

2. Bị đơn: Bà ĐYP, sinh năm 1982; địa chỉ: x Lô x Chung cư xx, Phường x,

Quận x, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 25/11/2020 và các bản tự khai của đại diện ủy quyền

của nguyên đơn trình bày:

Ngày 24/7/2013, Ngân hàng TMCPSGTT có ký hợp đồng sử dụng thẻ tín

dụng (Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành thẻ và sử dụng thẻ tín dụng ngân hàng) với bà ĐYP. Căn cứ vào thu nhập của bà ĐYP, ngân hàng đã cấp hạn mức tín dụng là 20.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất là 2,6%/tháng (lãi suất trong hạn). Sau khi được cấp thẻ, bà P đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 376.654.764 đồng. Từ ngày 05/9/2013 đến ngày 05/11/2019 bà P đã thanh toán cho X với tổng số tiền là 368.268.502 đồng, trong đó bao gồm tiền gốc và lãi. Tính đến ngày 05/3/2020 bà P còn nợ X số tiền nợ gốc là 23.804.903 đồng. X đã nhiều lần thông báo nhắc nợ nhưng bà P vẫn không có thiện chí trả nợ, vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản điều khoản và Điều kiện phát hành thẻ tín dụng của ngân hàng), nên đến ngày 06/3/2020 X chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Do đó, X yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà ĐYP phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán ngay cho X với tổng số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày xét xử 24/01/2022 là: 45.157.643 (bốn mươi lăm triệu một trăm năm mươi bảy nghìn sáu trăm bốn mươi ba đồng), trong đó nợ gốc là 23.804.903 đồng, lãi quá hạn là 21.352.740 đồng, bà P còn phải tiếp tục thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 25/01/2022 cho đến khi trả dứt nợ vay theo mức lãi suất quá hạn quy định tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký. * Đối với bị đơn bà ĐYP: Trong quá trình giải quyết vụ án bà P không đến Tòa và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của Ngân hàng TMCPSGTT. * Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 phát biểu quan điểm: Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành xét xử đúng quy định pháp luật. Nguyên đơn, chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành nhưng đã được Tòa án thực hiện thủ tục tống đạt, niêm yết hợp lệ, quyền và lợi ích hợp pháp được đảm bảo. Tuy nhiên, Thẩm phán vi phạm thời hạn tống đạt Thông báo thụ lý cho nguyên đơn và bị đơn theo khoản 1 Điều 196 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và chưa đảm bảo thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án theo quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát Quận 11 đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCPSGTT về việc buộc bà ĐYP thanh toán cho Ngân hàng TMCPSGTT tính đến ngày 24/01/2022 số tiền nợ gốc 23.804.903 đồng, nợ lãi quá hạn: 21.352.740 đồng. Tổng cộng 45.157.643 đồng, trả ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra bà P còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày 25/01/2022 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng đã kí. Bị đơn chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có nhận định:

Về tố tụng:

* Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án:

Tranh chấp giữa Ngân hàng TMCPSGTT (X) và bà ĐYP là tranh chấp hợp

đồng vay tài sản quy định tại Khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do bị đơn là bà ĐYP có nơi cư trú cuối cùng là Quận 11, nên căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 11.

* Về người tham gia tố tụng: Bị đơn bà ĐYP đã được Tòa án triệu tập hợp lệ

lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Ngày 28/12/2021, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông

VNKD có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.

Về chứng cứ của vụ án:

Phía nguyên đơn đã nộp bản sao Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp

đồng ngày 24/7/2013 và bản điều khoản và điều kiện phát hành thẻ và sử dụng thẻ tín dụng ngân hàng; đồng thời nộp các chứng cứ khác về tình trạng pháp lý của nguyên đơn, nhân thân của bị đơn. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp nhưng bị đơn không đến Tòa án và không gửi văn bản trình bày ý kiến, tham gia phiên họp, phiên hòa giải. Chứng cứ do nguyên đơn cung cấp là tài liệu bản sao; đồng thời bị đơn không có văn bản phản đối nội dung và tính pháp lý của tài liệu là chứng cứ do nguyên đơn cung cấp. Căn cứ Khoản 1 Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định bản sao Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 24/7/2013 và bản điều khoản và điều kiện phát hành thẻ và sử dụng thẻ tín dụng ngân hàng là chứng cứ để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng; đồng thời xem xét cùng với các chứng cứ khác do nguyên đơn cung cấp làm cơ sở để giải quyết vụ án.

Xét yêu cầu của nguyên đơn:

* Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả nợ gốc:

Ngày 24/7/2013, Ngân hàng TMCPSGTT có ký hợp đồng sử dụng thẻ tín

dụng (Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành thẻ và sử dụng thẻ tín dụng ngân hàng) với bà ĐYP. Căn cứ vào thu nhập của bà ĐYP, ngân hàng đã cấp hạn mức tín dụng là 20.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất là 2,6%/tháng (lãi suất trong hạn). Sau khi được cấp thẻ, bà P đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 376.654.764 đồng. Từ ngày 05/9/2013 đến ngày 05/11/2019 bà P đã thanh toán cho X với tổng số tiền là 368.268.502 đồng, trong đó bao gồm tiền gốc và lãi. Tính đến ngày 05/3/2020 bà P còn nợ X số tiền nợ gốc là 23.804.903 đồng. Nguyên đơn chỉ yêu cầu bà P có trách nhiệm thanh toán khoản nợ trên cho nguyên đơn, ngoài ra không yêu cầu ai khác phải có trách nhiệm thanh toán. Xét thấy việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với số tiền nợ gốc là 23.804.903 đồng là có căn cứ nên chấp nhận. * Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả lãi: Nguyên đơn yêu cầu tính lãi phát sinh trên số nợ gốc là 23.804.903 đồng tính từ ngày 06/3/2020 đến ngày xét xử 24/01/2022 theo mức lãi suất nợ quá hạn là 3,9%/tháng. Hội đồng xét xử có nhận định như sau: Ngày 24/7/2013 bị đơn ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng và đồng ý mức lãi suất theo Biểu phí sản phẩm dịch vụ thẻ X phát hành tại Việt Nam theo Quyết định số 2399/2019/QĐ-TTT ngày 06/8/2019 của X áp dụng mức lãi suất cho thẻ tín dụng nội địa là 2,6%/tháng, mức lãi suất nợ quá hạn là 150% của lãi suất được công bố áp dụng tại thời điểm hiện tại, mức lãi suất quá hạn là 3,9%/tháng. Xét thấy việc thỏa thuận lãi suất vay phù hợp theo quy định tại Khoản 2 Điều 91, Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 và phù hợp quy định tại Khoản 1, 2 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng. Hội đồng xét xử xét thấy việc thỏa thuận lãi suất giữa nguyên đơn và bị đơn là hoàn toàn tự nguyện và không trái pháp luật. Vì vậy, X yêu cầu bà P trả số tiền lãi tính đến ngày xét xử 24/01/2022 là 21.352.740 (hai mươi mốt triệu ba trăm năm mươi hai nghìn bảy trăm bốn mươi) đồng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bà ĐYP phải trả cho Ngân hàng TMCPSGTT số tiền 45.157.643 (bốn mươi lăm triệu một trăm năm mươi bảy nghìn sáu trăm bốn mươi ba) đồng, trong đó nợ gốc là 23.804.903 (hai mươi ba triệu tám trăm linh bốn nghìn chín trăm linh ba) đồng, lãi quá hạn tính đến ngày 24/01/2022 là 21.352.740 (hai mươi mốt triệu ba trăm năm mươi hai nghìn bảy trăm bốn mươi) đồng. Bà ĐYP còn phải tiếp tục thanh toán khoản lãi phát sinh kể từ ngày 25/01/2022 cho đến khi trả dứt nợ vay theo mức lãi suất quá hạn quy định tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký với Ngân hàng TMCPSGTT.

Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, yêu cầu của Ngân hàng TMCPSGTT được chấp nhận nên bị đơn bà ĐYP phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.257.882 (hai triệu hai trăm năm mươi bảy nghìn tám trăm tám mươi hai) đồng.

Hoàn lại số tiền tạm ứng án phí là 793.177 (bảy trăm chín mươi ba

nghìn một trăm bảy mươi bảy) đồng cho Ngân hàng TMCPSGTT theo biên lai thu số AA/2019/0052578 ngày 07/12/2020 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân

Quận 11 đề nghị về nội dung và kiến nghị về tố tụng là có căn cứ nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,

Điều 186, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ khoản 1, 2 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016

của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban

thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCPSGTT về việc yêu cầu

bà ĐYP trả nợ.

Buộc bà ĐYP phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCPSGTT tổng số

tiền là 45.157.643 (bốn mươi lăm triệu một trăm năm mươi bảy nghìn sáu trăm bốn mươi ba) đồng, trong đó nợ gốc là 23.804.903 (hai mươi ba triệu tám trăm linh bốn nghìn chín trăm linh ba) đồng, lãi quá hạn tính đến ngày 24/01/2022 là 21.352.740 (hai mươi mốt triệu ba trăm năm mươi hai nghìn bảy trăm bốn mươi) đồng. Thanh toán một lần sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Bà ĐYP còn phải tiếp tục thanh toán khoản lãi phát sinh kể từ ngày

25/01/2022 cho đến khi trả dứt nợ vay theo mức lãi suất quá hạn quy định tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký với Ngân hàng TMCPSGTT. 2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà ĐYP phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.257.882 (hai triệu hai trăm năm mươi bảy nghìn tám trăm tám mươi hai) đồng. Hoàn lại số tiền tạm ứng án phí là 793.177 (bảy trăm chín mươi ba nghìn một trăm bảy mươi bảy) đồng cho Ngân hàng TMCPSGTT theo biên lai thu số AA/2019/0052578 ngày 07/12/2020 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. 3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. 4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Cỡ chữ