vanban.org

Bản án 16/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện chị Huỳnh Thị L. Buộc anh Lê Công Ch và chị Nguyễn Thị M trả cho chị Huỳnh Thị L số tiền 34.

Kể từ ngày chị L có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Ch và chị M chậm thi hành khoản tiền nêu trên, thì hàng tháng anh Ch và chị M còn phải chịu thêm khoản lãi suất chậm thi hành theo mức lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Huỳnh Thị Lũy - Lê Công Chính, Nguyễn Thị Mành"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện chị Huỳnh Thị L. Buộc anh Lê Công Ch và chị Nguyễn Thị M trả cho chị Huỳnh Thị L số tiền 34.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2022/DS-ST
Ngày 28 - 01 - 2022
V/v tranh chấp vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Mai

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hồ Thanh Phong

Ông Châu Trung Trực

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Diễm My là Thư ký Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi tham gia phiên tòa: Ông Dương Tấn Viễn – Kiểm sát viên.

Vào các ngày 11 và 28 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 542/2020/TLST-DS ngày 24 tháng 12 năm 2020 về việc tranh chấp vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 307/2021/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 6 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị L, sinh năm 1972; cư trú tại: Ấp Hiệp H, xã Ngọc Ch, huyện Đầm D, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Bị đơn: Ông Lê Văn Ch và bà Nguyễn Thị M; cư trú tại: Ấp Hiệp H, xã Ngọc Ch, huyện Đầm D, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 21/12/2020 của chị Huỳnh Thị L, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa thể hiện:

Ngày 05/4/2019 chị L có tham gia 01 dây hụi, loại hụi 1.000.000 đồng do anh Thiều Văn H làm chủ, mục đích nhằm tích lũy để điều trị bệnh. Ông Lê Công Ch và bà Nguyễn Thị M là bạn quen thân cùng xóm đến hỏi mượn chưng hụi trên, thỏa thuận chị Ch đóng phần hụi chết, chị L đóng hụi sống, sau khi mãn hụi sẽ trả bằng số tiền là 40.000.000 đồng (số tiền chị L được hưởng khi mãn hụi), việc thỏa thuận không có làm giấy tờ, cũng không có thỏa thuận với chủ hụi.

Vào ngày 30/8/2019, tại kỳ khui thứ 11, chị L hốt hụi với số tiền là 34.100.000 đồng, sau đó đưa cho chị M mượn. Khi đưa tiền cho mượn cũng không có làm giấy tờ nhưng có chủ hụi là anh H, hụi viên là chị Đ cùng xóm biết việc này. Sau khi cho mượn chị M có đóng hụi được 1 lần thì không đóng nữa mà bỏ địa phương đi đến nay. Dây hụi này đến nay đã mãn, chị L đã đóng hụi chết đầy đủ cho anh H. Chị L yêu cầu anh Ch và chị M phải trả cho chị toàn bộ số tiền mà chị được hưởng trong dây hụi là 40.000.000 đồng.

Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 28/5/2021 và tại phiên tòa, chị L rút một phần yêu cầu khởi kiện, yêu cầu anh Ch và chị M trả cho chị số tiền mà chị đã cho mượn là 34.100.000 đồng. Ngoài ra chị không còn yêu cầu gì khác.

* Đối với bị đơn: Ông Lê Công Ch và bà Nguyễn Thị M Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và các lần triệu tập tham gia phiên tòa nhưng ông Ch và bà M đều vắng mặt. Không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi phát biếu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử là đảm bảo theo quy định của pháp luật. Đương sự trong vụ án thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án chị L thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu chị M và anh Ch trả số tiền 34.100.000 đồng. Việc thay đổi yêu cầu khởi kiện là ý chí tự nguyện của chị L không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu nên áp dụng Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự nên được chấp nhận.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị L, buộc ông Lê Công Ch và bà Nguyễn Thị M trả cho chị L số tiền 34.100.000 đồng.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Huỳnh Thị L không phải chịu, đã dự nộp tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0011654 ngày 24/12/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi được nhận lại. Anh Lê Công Ch và chị Nguyễn Thị M phải chịu 1.705.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Ông Lê Công Ch và bà Nguyễn Thị M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự.

Quá trình giải quyết vụ án chị Huỳnh Thị L thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu anh Ch và chị M trả số tiền 34.100.000 đồng. Xét việc thay đổi yêu cầu khởi kiện là ý chí tự nguyện của chị L, không trái pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Chị L yêu cầu anh Ch và chị M trả số tiền cho mượn là 34.100.000 đồng, quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Theo chị L xác định có cho anh Ch và chị M mượn số tiền 34.100.000 đồng là tiền hốt một chưng hụi 1.000.000 đồng, gồm 41 chưng, do anh Thiều Văn H làm chủ và có thỏa thuận với anh Ch và chị M là khi mãn hụi anh Ch và chị M phải trả cho chị L số tiền 40.000.000 đồng; đồng thời phải đóng hụi chết cho anh H. Việc giao tiền và thỏa thuận cho mượn hụi không có làm giấy tờ.

Theo lời xác nhận của anh Thiều Văn H tại giấy xác nhận ngày 19/01/2021 và các biên bản xác minh ngày 11, 12/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi đối với anh Thiều Văn H thể hiện: Anh H có biết chị L bỏ hốt một chưng hụi 1.000.000 đồng do anh làm đầu thảo để cho chị M và anh Ch mượn. Sở dĩ anh biết là do chị L nói hốt cho chị M mượn. Khi anh giao tiền hụi thì nghe chị L gọi chị M đến để đưa số tiền hụi trên cho chị M mượn. Do nhà chị L và chị M ở gần nhau nên khi chị M đến nhận tiền thì anh H còn ở đó và chứng kiến việc chị L đưa toàn bộ số tiền vừa hốt hụi cùng giấy giao tiền hụi cho chị M, thời điểm đó có bà Đ đến nhà chị L chơi và nằm võng gần đó. Chị M có nói “tôi mượn của chị 2 (L) chưng hụi”.

Lời xác nhận của bà Trần Hồng Đ tại giấy xác nhận ngày 15/01/2021 và Biên bản xác minh ngày 20/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đầm D thể hiện: Bà Đ khẳng định có tham gia dây hụi trên cùng với chị L. Ngày chị L hốt hụi có nói với bà là hốt cho ông Ch và bà M mượn. Bà có chứng kiến việc chị M đến mượn tiền và biết đó là toàn bộ số tiền chị L vừa hốt hụi.

Lời trình bày của chị Lê Kim C (vợ của anh Thiều Văn H) tại biên bản xác minh ngày 12/01/2022 của Tòa án thể hiện: Chị biết việc chị M mượn tiền của chị L do chị L có điện thoại cho chị nhờ bỏ hốt dùm chưng hụi và có nói là hốt cho chị M mượn. Đến ngày giao hụi do anh H đi giao nên chị không chứng kiến việc chị M đến nhận tiền từ chị L nhưng chị Kim C xác định là chị M có mượn của chị L số tiền hốt hụi và chưa trả cho chị L, vì khi chị L hốt hụi cho mượn được gần 1 tháng thì vợ chồng chị M bỏ địa phương. Ngoài ra, chị M và anh Ch hiện còn nợ tiền hụi chị trong nhiều dây hụi, chị M nhờ chị hỏi vay tiền dùm và nợ nhiều người ở địa phương. Do bận công việc nên chị chưa có điều kiện đến tòa khởi kiện anh Ch và chị M.

Về phía địa phương trưởng ấp ông Dương Quốc V xác định anh Ch và chị M đã bỏ địa phương liên quan đến nợ nhiều người. Đối với chị L theo ông biết là anh Ch và chị M có nợ nhưng không xác định được cụ thể số tiền nợ là bao nhiêu. Giữa chị L với anh H và bà Đ cũng không có quan hệ họ hàng, không có mâu thuẫn gì, chỉ sống cùng địa phương.

Qua xem xét lời trình bày của chị L, các tài liệu chứng cứ đương sự cung cấp cũng như các tài liệu chứng cứ do Tòa án thu thập, ý kiến của Kiểm sát viên xét thấy: ông Lê Công Ch và bà Nguyễn Thị M có mượn của chị L số tiền 34.100.000 đồng. Anh Ch với chị M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ các văn bản tố tụng để biết được yêu cầu khởi kiện của chị L nhưng anh, chị không có ý kiến, không cung cấp tài liệu chứng cứ và không có thiện chí phối hợp với Tòa án để giải quyết vụ án. Như vậy, nội dung yêu cầu khởi kiện của chị L thuộc trường hợp những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị L là phù hợp.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Huỳnh Thị L không phải chịu, chị L đã dự nộp tiền tạm ứng án phí được nhận lại. Anh Lê Công Ch và chị Nguyễn Thị M phải chịu 1.705.000 đồng (34.100.000 đồng x 5%).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 91, khoản 2 Điều 92, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 244, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện chị Huỳnh Thị L. Buộc anh Lê Công Ch và chị Nguyễn Thị M trả cho chị Huỳnh Thị L số tiền 34.100.000 đồng (ba mươi bốn triệu một trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày chị L có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Ch và chị M chậm thi hành khoản tiền nêu trên, thì hàng tháng anh Ch và chị M còn phải chịu thêm khoản lãi suất chậm thi hành theo mức lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Huỳnh Thị L không phải chịu, đã dự nộp tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0011654 ngày 24/12/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi được nhận lại. Anh Lê Công Ch và chị Nguyễn Thị M phải chịu 1.705.000 đồng, anh Ch và chị M chưa nộp.

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ