- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| HUYỆN MƯỜNG TÈ TỈNH LAI CHÂU ——— Bản án số: 16/2021/HSST Ngày: 09/12/2021 NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Mạnh Trang Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lý Thị The; Bà tống Thị Vịnh Mường tè, tỉnh Lai Châu. Lương Gia Khánh, kiểm sát viên. Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2021/HSST, ngày 15 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:19/2021/QĐXXST – HS, ngày 26 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo: Mường Tè, tỉnh Lai Châu. Nơi thường trú: bản Nậm Củm, xã Bum Nưa, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: trồng trọt; Đoàn, Đảng: không; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Mảng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Lò Y V - sinh năm: 1962; Con bà: Lò Thị Ch - sinh năm: 1965; Bị cáo có vợ là Chìn Thị Ph, bị cáo có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2016, con nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/06/2021 đến nay - Có mặt tại phiên tòa. thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lai Châu - Có mặt Nưa, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu - Vắng mặt. | Ngày 09 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh |
NỘI DUNG VỤ ÁN;
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 03/6/2021, Lò A T rủ anh trai là Lò A Đ đi xuống thị trấn Mường Tè, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu chơi và được Đ đồng ý. T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RS biển kiểm soát 25M1- 051.75 đi xuống thị trấn Mường Tè. Khoảng 20 giờ cùng ngày Tào và Đ đến thị trấn Mường Tè, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, Đ và T ngồi uống nước trên vỉa hè thuộc khu phố 12, thị trấn Mường Tè, khoảng 30 phút sau trời thì trời mưa to, nên T rủ Đ đi về nhà, đến khoảng 21 giờ khi T chở Đ đi đến khu vực vòng xuyến khu phố 12, thị trấn Mường Tè, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, thì T dừng lại đi vệ sinh, khi đi vệ sinh, T gặp một người đàn ông lạ mặt, qua trao đổi, T đã mua được của người đàn ông này 05 gói ma túy, đều được gói trong mảnh ni lon màu hồng (Trong đó 04 gói Heroine và 01 gói bên trong có 01 gói Heroine và 02 viên nén màu hồng) với số tiền 2.300.000 đồng. Mua được số ma túy trên, T cầm trên tay rồi đi ra chỗ Đ đứng đợi, rồi cùng Đ đi về nhà. Đến khoảng 22 giờ 45 phút cùng ngày, khi T điều khiển xe mô tô đến khu vực đường liên xã thuộc địa phận bản Nà Lang, xã Bum Nưa, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu thì gặp tổ công tác Công an xã Pa Vệ Sủ đang làm nhiệm vụ yêu cầu dừng xe để kiểm tra, do hoảng sợ, T không kịp dừng xe, nên đã va vào xe mô tô của tổ công tác làm cho T và Đ ngã xuống rãnh thoát nước, lúc này Tào thả số ma túy trên bàn tay phải ra, thì bị tổ công tác phát hiện bắt quả tang thu giữ 05 gói, được gói trong các mảnh ni lon màu hồng, trong đó có 05 gói chứa chất bột khô, vón cục, màu trắng và 02 viên nén màu hồng, tại đây T đã khai nhận đây là ma túy của T. Ngoài ra còn thu giữ 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RS biển kiểm soát 25M1- 051.75.
Qua xác định khối lượng và giám định chất ma túy, đã xác định 05 gói chất bột khô, vón cục, màu trắng ( có ký hiệu 03, 04,05,06,07) thu giữ của Lò A T có tổng khối lượng là 5,58 gam và 02 viên nén màu hồng có tổng khối lượng là 0,18 gam, tại bản Kết luận giám định số: 422/GĐ–KTHS, ngày 13/6/2021 của Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận 05 mẫu bột khô, vón cục, màu trắng thu giữ của Lò A T gửi đến giám định đều là ma túy, loại Heroine; 02 viên nén màu hồng thu giữ của Lò A T gửi đến giám định đều là ma túy, loại Methamphetamine.
Tại Cáo trạng số: 84/CT- VKS– MT, ngày 15 tháng 10 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè đã truy tố bị cáo Lò A T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm n khoản 2 Điều 249 BLHS.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lò A T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 38, Điều 50; điểm n khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 BLHS. Xử phạt bị cáo Lò A T từ 05 năm tù đến 05 năm 06 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, vì bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có điều kiện thi hành.
Về vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy gồm: 3,94 gam Heroine còn lại sau khi giám định và 01 chiếc đèn pin (đã qua sử dụng).
Về án phí hình sự sơ thẩm đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo vì bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn.
Người bào chữa cho bị cáo Lò A T, trình bày luận cứ bào chữa, người bào chữa nhất trí với luận tội của kiểm sát viên. Đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm n khoản 2 Điều 249. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức thấp nhất của khung hình phạt. Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo, vì bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV, đề nghị miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo vì bị cáo có điều kiện kinh tế khó khăn.
Tại phiên tòa bị cáo Lò A T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, lời khai của bị cáo là thống nhất, phù hợp với các lời khai tại cơ quan Điều tra; Bị cáo nhất trí với ý kiến bào chữa của người bào chữa, không có ý kiến gì bổ sung thêm; Bị cáo nhất trí luận tội và đề nghị của kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận, không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức thấp nhất để bị cáo sớm trở về gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN;
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu và Điều tra viên, Kiểm sát viên được phân công điều tra, truy tố, trong quá trình thực hiện đã tuân thủ đúng theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[ 2 ] Về hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Vào khoảng 22 giờ 45 phút ngày 03/6/2021, tại khu vực đường liên xã thuộc khu vực bản Nà Lang, xã Bum Nưa, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, Công an xã Pa Vệ Sủ đã phát hiện, bắt quả tang Lò A T đang có hành vi tàng trữ 5,58 gam Heroine và 0,18 gam Methamphetamin, Tào tàng trữ Heroine và Methamphetamin với mục đích để sử dụng cho bản thân (hít).
Như vậy khẳng định, hành vi mua 5,58 gam Heroine và 0,18 gam Methamphetamine, nhằm mục đích tàng trữ để sử dụng của Lò A Tào đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do vậy, Cáo trạng số: 84/CT - VKS - MT, ngày 15 tháng 10 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè truy tố đối với Lò A T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”' theo điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[ 3 ] Về tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ việc mua Heroine và Methamphetamine tàng trữ để sử dụng là vi phạm pháp luật, nhưng do muốn có ma túy để sử dụng, nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm vào chính sách độc quyền về quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.
[ 4 ] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân, bị cáo Lò A T có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo là người nghiện chất ma túy, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS cần được xem xét áp dụng cho bị cáo; bị cáo là người dân tộc thiểu số, có trình độ học vấn thấp, sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, hiểu biết pháp luật còn có phần hạn chế nhất định, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS cần được áp dụng cho bị cáo.
[ 5 ] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ và tại phiên tòa, xét thấy, bị cáo Lò A T có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có điều kiện thi hành, Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Trong vụ án này, theo lời khai của Lò A T, số ma túy Tào có được là do T mua của một người đàn ông, tại khu vực vòng xuyến thuộc khu phố 12, thị trấn Mường Tè, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, nhưng Tào không biết rõ lai lịch của người này, nên không có cơ sở để điều tra xử lý được đối với người này. Đối với Lò A Đ là người đi cùng Tào, nhưng Tào mua ma túy và khi Tào có ma túy Đ không biết, nên không xử lý đối với Lò A Đ là phù hợp quy định pháp luật.
[ 6 ] Về vật chứng: Đối với những vật chứng thu giữ còn lại gồm: 3,94 gam Heroine còng lại sau khi giám định ; 01 chiếc đèn pin đã qua sử dụng đây là chất cấm lưu hành và tài sản không có giá trị sử dụng, cần phải tịch thu tiêu hủy.
[ 7 ] Về án phí hình sự sơ thẩm: Xét thấy, bị cáo Lò A T là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn, Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên và ý kiến của người bào chữa là có căn cứ, Hội đồng xét xử cần phải chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH;
Áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về án phí, lệ phí.
1. Tuyên bố bị cáo Lò A T phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Lò A T 05 (năm) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 04/6/2021.
2. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy gồm: 3,94 gam Heroine còn lại sau khi gửi giám định và một chiếc đèn Pin, nhãn hiệu SHEIEERLIANG màu xanh thẫm, có dây đội màu đỏ ( đã qua sử dụng).
Toàn bộ vật chứng trên hiện đang được thu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường tè, tỉnh Lai Châu, theo biên bản giao nhận vật chứng số 19, ngày 15/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.
3. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò A T.
Án xử công khai, có mặt bị cáo, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày từ ngày tuyên án lên Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu để xem xét theo thủ tục phúc thẩm./
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh; - VKSND tỉnh; - Công an huyện; - Thi hành án hình sự; - VKSND huyện; - Thi hành án dân sự huyện; - Sở Tư pháp; - Bị cáo; - Người bào chữa; - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Đỗ Mạnh Trang |